Trong đám cưới truyền thống của người Tày, quan làng là người đại diện nhà trai dẫn đoàn đi đón dâu. Đến nhà gái, đoàn gặp những sợi dây chăng ngang lối vào, và quan làng phải hát đối với bên nhà gái cho đến khi dây được mở. Lối hát ấy gọi là hát quan làng, còn gọi là lượn quan làng. Đây là phần được nhắc nhiều nhất, nhưng đám cưới Tày còn nhiều chặng khác trước và sau đó.
Người Tày và người Nùng sống đan xen ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang và một phần Lào Cai, Quảng Ninh, Bắc Ninh. Hai dân tộc có nhiều nét văn hoá gần nhau, và nhiều tục cưới của người Nùng cũng có quan làng, có hát đối, nhưng tên gọi, lời hát và trình tự lệch nhau theo từng nhóm. Bài này lấy đám cưới người Tày làm trục, nhắc chỗ người Nùng có khác, và nói rõ đâu là nét chung, đâu là nét riêng một vùng.
Các chặng của một đám cưới Tày theo nếp cũ
Số chặng và tên gọi thay đổi theo vùng; trình tự dưới đây là khung hay gặp trong các mô tả về đám cưới người Tày ở Việt Bắc.
- Dạm hỏi và so tuổi. Nhà trai nhờ người mối sang nhà gái xin lá số, tức tờ ghi năm tháng ngày giờ sinh của cô gái, để hai nhà bàn chuyện có thành đôi được không. Việc xem tuổi thuộc niềm tin riêng từng nhà, ở đây chỉ nhắc như một bước của tục.
- Ăn hỏi. Khi hai nhà đã thuận, nhà trai sang ăn hỏi, bàn với nhà gái về ngày cưới và phần lễ nhà trai lo.
- Báo ngày cưới. Nhà trai sang báo ngày cưới đã định, nhà gái chuẩn bị đón đoàn.
- Đón dâu. Quan làng dẫn đoàn nhà trai đến nhà gái, qua các lần chăng dây, hát đối, rồi xin đón cô dâu về.
- Về nhà chồng và lại mặt. Cô dâu về nhà chồng, có cỗ mời họ hàng. Sau đó đôi vợ chồng về thăm nhà gái.
Trong khung này, phần đón dâu là phần dài nhất và đông người nhất. Những chặng trước thường gọn, chủ yếu giữa người lớn hai nhà. Ngày nay nhiều gia đình gộp báo ngày cưới vào ăn hỏi, hoặc làm đón dâu và lại mặt trong cùng ít ngày để họ hàng ở xa về một lần.
Quan làng là ai và vì sao phải giỏi
Người được chọn. Quan làng thường là một người đàn ông trong họ hoặc trong bản, có gia đình êm ấm, biết lượn, biết ứng đối nhanh. Có nơi đoàn có cả quan làng chính và người phụ, cùng một phụ nữ lớn tuổi đi theo để đón cô dâu, cùng phù dâu, phù rể và những người gánh lễ.
Trách nhiệm. Quan làng thay mặt nhà trai nói chuyện với nhà gái từ lúc đến cổng cho tới lúc đưa cô dâu về. Mọi lời xin, lời cảm ơn, lời nhận lỗi đều qua miệng quan làng. Nếu quan làng hát đuối, nhà trai mất mặt; nếu quan làng ứng đối khéo, đoàn được nể.
Học hát từ đâu. Lời hát quan làng có những bài cổ được truyền qua nhiều thế hệ, có bài được chép lại, và có phần ứng khẩu theo tình huống. Người làm quan làng thường học từ người đi trước, theo nhiều đám cưới để thuộc lề lối.
Ngày nay. Số người hát quan làng giỏi đã ít đi. Nhiều đám cưới mời người có tiếng trong vùng làm quan làng, hoặc giữ một vài bài hát chính thay cho cả cuộc đối đáp dài. Ở một số địa phương có câu lạc bộ, lớp truyền dạy lượn và hát quan làng cho người trẻ.
Chăng dây chặn cửa và cuộc hát đối
Khi đoàn đón dâu đến gần nhà gái, bên nhà gái chăng những sợi dây ngang lối đi. Mỗi sợi dây là một lần quan làng phải dừng lại, hát xin mở đường. Bên nhà gái hát hỏi lại, có khi trêu, có khi trách khéo, có khi hỏi về chuyện trồng cấy, chuyện nuôi con, chuyện đường xa. Quan làng phải trả lời bằng lời hát hợp ý, đủ vần. Khi nhà gái hài lòng, dây được mở và đoàn đi tiếp tới sợi dây sau, rồi đến cửa nhà.
Ở nhiều vùng, những sợi dây ấy mang tên gắn với một ý nghĩa: dây đầu chào hỏi, dây giữa thử tài, dây cuối là lúc nhà gái chịu nhận. Lời hát nói về việc nhà trai đi đường xa mệt nhọc, về công cha mẹ nuôi con gái, về mong muốn hai họ gắn bó. Vào đến nhà, các cuộc hát tiếp tục trong bữa cỗ, quanh mâm rượu, quanh việc xin phép đón cô dâu.
Với người ngoài, đây là phần vui nhất của đám cưới Tày. Nhưng cái hay của nó không chỉ là không khí. Hát quan làng là cách hai họ nói với nhau những điều khó nói thẳng, như lời trách nhà trai lễ còn thiếu hay lời dặn con rể phải thương vợ, mà không ai mất lòng. Nó cũng là dịp để cả bản nghe lại những lời hát cũ mà ngày thường ít khi được dùng.
Người Nùng nhiều nơi cũng có hát đối trong đám cưới, có người đại diện nhà trai tương tự quan làng, nhưng làn điệu và lời hát mang nét riêng của từng nhóm Nùng. Khi dự một đám cưới cụ thể, bạn nên hỏi gia đình gọi người dẫn đoàn là gì, hát theo lối nào.
Tục cô dâu ở lại nhà mẹ đẻ sau cưới
Một tục từng có ở người Tày, và cả ở người Nùng một số vùng, là sau lễ cưới cô dâu chưa về hẳn nhà chồng mà trở lại sống ở nhà bố mẹ đẻ một thời gian. Trong thời gian ấy, cô đi lại giữa hai nhà vào các dịp lễ, Tết, mùa vụ. Theo nhiều ghi chép, cô dâu về hẳn nhà chồng khi đã có con hoặc sắp sinh con.
Cách giải thích phổ biến là gia đình nhà gái cần thêm thời gian có con gái làm việc, và người con gái cũng cần thời gian làm quen dần với nhà chồng thay vì chuyển hẳn sang một nơi lạ ngay sau ngày cưới. Có ý kiến cho rằng tục này còn mang dấu vết của nếp ở rể xưa, khi việc chuyển hẳn về một bên diễn ra chậm và theo từng bước.
Ngày nay tục này đã rất ít nơi giữ. Phần lớn đôi vợ chồng trẻ người Tày, người Nùng về ở chung hoặc ra ở riêng ngay sau cưới, nhất là khi cả hai đi làm xa. Tuy vậy, dấu vết của nó còn trong cách người lớn tuổi nói về việc con gái về thăm nhà mẹ đẻ: không phải chuyện hiếm hoi mà là chuyện bình thường, được hai nhà chấp nhận.
Khi tìm hiểu tục này, nên tránh nhìn nó qua cách hiểu của người ngoài như "vợ chồng sống xa nhau". Trong bản làng, khoảng cách giữa hai nhà thường gần, việc đi lại hằng ngày là chuyện dễ, và quan hệ của đôi vợ chồng vẫn được cả hai họ công nhận từ ngày cưới.
Áo chàm của cô dâu và những thứ mang về nhà chồng
Trang phục cưới truyền thống của cô dâu Tày thường là áo dài màu chàm, may từ vải tự dệt, nhuộm chàm nhiều lần cho màu sâu, kèm khăn đội đầu và thắt lưng. So với trang phục cưới của nhiều dân tộc khác ở vùng cao, áo cưới Tày khá giản dị, ít hoa văn, cái đẹp nằm ở màu chàm đều, đường may khéo và dáng người mặc. Đồ bạc như vòng cổ, vòng tay đi kèm tuỳ gia cảnh.
Theo nhiều mô tả, khi về nhà chồng, cô dâu mang theo chăn, gối, vải vóc do mình và mẹ chuẩn bị, có khi kèm những món đồ dùng cho gian bếp. Những thứ ấy là phần nhà gái gửi theo con gái, để con có cái dùng lúc đầu và để nhà chồng thấy sự chu đáo của nhà gái. Phần này khác với phần lễ nhà trai mang sang; hai bên đều có trách nhiệm, không chỉ một phía.
Ngày nay, áo chàm vẫn là trang phục được nhiều cô dâu Tày chọn cho lễ đón dâu, nhất là ở các bản, kể cả khi buổi tiệc sau đó mặc váy cưới kiểu mới. Nhiều người trẻ tìm lại áo chàm vì thấy nó hợp với ảnh cưới và gợi nhớ quê nhà. Ai muốn tìm hiểu kỹ hơn về nghề dệt, nhuộm chàm có thể hỏi các gia đình còn giữ khung cửi trong bản.
Nét chung và nét riêng giữa đám cưới Tày và Nùng
Bảng dưới gom những điểm hay được nhắc. Vì cả hai dân tộc đều có nhiều nhóm địa phương, mỗi ô chỉ là xu hướng chung, không áp được cho mọi bản.
| Nét tục | Người Tày | Người Nùng |
|---|---|---|
| Người dẫn đoàn đón dâu | Quan làng, hát quan làng hay lượn quan làng | Nhiều nơi cũng có người đại diện hát đối, tên gọi và lối hát riêng từng nhóm |
| Chăng dây chặn cửa | Phổ biến trong đám cưới truyền thống | Có ở một số nơi, nhiều nơi hát đối trong nhà là chính |
| Cô dâu ở lại nhà mẹ đẻ | Từng có, nay rất ít | Từng có ở một số nhóm, nay rất ít |
| Hát trong đám cưới | Lượn, hát quan làng | Hát sli, hát đối theo làn điệu Nùng |
| Vùng tiêu biểu | Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang | Cao Bằng, Lạng Sơn, một phần Thái Nguyên, Bắc Ninh |
Sli là lối hát đối đáp quen thuộc của người Nùng, lượn là của người Tày, nhưng ở vùng sống đan xen thì người hai dân tộc vẫn hát được của nhau. Đây là chỗ nên hỏi người địa phương thay vì đoán theo sách.
Đám cưới Tày ngày nay: giữ gì, gọn gì
Như nhiều nơi khác, đám cưới người Tày ở thị trấn, thành phố đã gọn đi nhiều. Có gia đình thuê rạp, làm tiệc ở nhà hàng, cô dâu mặc váy cưới kiểu mới vào buổi tiệc và mặc áo chàm truyền thống trong lễ đón dâu. Những phần được giữ nhiều nhất là việc có người đại diện nhà trai nói lời xin dâu, vài bài hát quan làng, và việc mời người lớn trong họ hai bên chứng kiến.
Ở các bản, đám cưới vẫn có nhiều phần cũ hơn: chăng dây, hát đối, cỗ trên nhà sàn, rượu, nhiều người gánh lễ. Việc giữ hay bỏ không phụ thuộc vào chuyện "hiện đại hay lạc hậu" mà phụ thuộc vào việc trong họ còn người hát được không, hai nhà có muốn giữ không, và điều kiện đi lại thế nào.
Nếu bạn là người ngoài sắp dự hay sắp làm rể một gia đình Tày, điều đáng làm là hỏi trước có hát quan làng không, để đoàn nhà mình chuẩn bị người. Không có người biết hát thì cứ nói thật; nhà gái thường thông cảm và có thể hát ít bài cho vui, không làm khó. Đừng cười cợt khi bị chặn dây, vì đó là lễ, là cách nhà gái thể hiện sự trân trọng con gái mình.
Câu hỏi thường gặp
Quan làng trong đám cưới người Tày là ai?
Quan làng là người đại diện nhà trai dẫn đoàn đi đón dâu, thường là người đàn ông có gia đình êm ấm, biết lượn và ứng đối giỏi. Quan làng thay nhà trai nói mọi lời xin, lời cảm ơn với nhà gái.
Vì sao nhà gái lại chăng dây chặn đường đoàn đón dâu?
Chăng dây là một phần lễ, mỗi sợi dây là một lần quan làng phải hát xin mở đường. Qua đó nhà gái thử tài nhà trai, nói những lời gửi gắm khó nói thẳng, và thể hiện sự trân trọng với con gái mình.
Hát quan làng và hát lượn khác nhau thế nào?
Lượn là tên chung cho nhiều lối hát giao duyên của người Tày; hát quan làng là các bài hát, lời đối dùng trong đám cưới, do quan làng hát với nhà gái. Nhiều người gọi chung là lượn quan làng.
Người Tày còn giữ tục cô dâu ở lại nhà mẹ đẻ sau cưới không?
Rất ít nơi còn giữ. Phần lớn đôi vợ chồng trẻ về ở chung hoặc ra ở riêng ngay sau cưới. Tục này chủ yếu còn trong lời kể của người lớn tuổi và trong các ghi chép dân tộc học.
Đám cưới người Nùng có hát quan làng không?
Nhiều nơi người Nùng cũng có người đại diện nhà trai hát đối, nhưng làn điệu và tên gọi mang nét riêng, như hát sli. Ở vùng Tày – Nùng sống đan xen, hai lối hát hay hoà vào nhau.
Nhà trai không có ai biết hát quan làng thì làm sao?
Nên báo trước với nhà gái để hai bên thống nhất cách làm. Có gia đình mời người biết hát trong vùng giúp, có gia đình giữ vài bài hát ngắn cho đủ lễ. Nhà gái thường thông cảm nếu được nói rõ từ đầu.