Kéo vợ, theo cách hiểu của chính người Mông, là một bước trong hôn nhân khi đôi trai gái đã tìm hiểu và ưng nhau: chàng trai cùng bạn bè đưa cô gái về nhà mình, sau đó hai gia đình mới bàn chuyện cưới. Khi cô gái không đồng ý mà vẫn bị đưa đi, đó không còn là tục mà là cưỡng ép kết hôn, bị pháp luật cấm. Ranh giới nằm ở một chữ duy nhất: sự tự nguyện.
Kéo vợ hay được nhắc đến như một chuyện "lạ" của vùng cao, và chính cách kể ấy làm người ngoài hiểu sai: hoặc tưởng đó là bắt cóc, hoặc tưởng đó là nét lãng mạn vô hại. Bài này đi từ gốc tục theo ghi chép dân tộc học và lời kể của người Mông, tới chỗ tục bị biến tướng, rồi đến những điều Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định. Người Mông có nhiều nhóm như Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Đen, sống ở Tuyên Quang, Lào Cai, Điện Biên, Sơn La, Lai Châu, Cao Bằng, Thanh Hoá, Nghệ An; mỗi nơi giữ tục ở mức khác nhau.
Kéo vợ trong nếp cũ diễn ra thế nào
Theo các mô tả phổ biến, trai gái Mông tìm hiểu nhau qua chợ phiên, những ngày Tết, những buổi hát đối, thổi khèn, thổi sáo, ném pao. Khi đã ưng nhau, đôi trẻ hẹn một ngày. Chàng trai rủ vài người bạn thân đến chỗ hẹn, đưa cô gái về nhà mình. Cô gái thường tỏ ra chống cự, kêu khóc, níu lại, nhưng đó là một phần của lễ nghi, cho thấy cô không phải người dễ dãi và gia đình mình có nếp. Bạn bè cô gái cũng có thể làm bộ giữ lại.
Về đến nhà trai, cô gái được đưa vào nhà theo những nghi thức riêng của từng dòng họ. Nhà trai cử người sang báo cho nhà gái biết con gái họ đang ở đâu, để gia đình khỏi lo. Theo nhiều ghi chép, cô gái ở nhà trai vài ngày. Đây là khoảng thời gian để cô suy nghĩ thêm: nếu ưng, cô ở lại và hai gia đình bàn chuyện cưới; nếu không ưng, cô có thể ra về, và nếp cũ cũng chấp nhận điều đó.
Sau bước kéo vợ, ông mối bên nhà trai sang nhà gái để bàn các phần của lễ cưới, trong đó có những thứ nhà trai cần mang sang. Lễ cưới chính thức diễn ra sau đó, có tiếng khèn, có rượu, có họ hàng hai bên. Như vậy kéo vợ chỉ là một bước mở đầu, không thay được lễ cưới và càng không thay được sự đồng ý của gia đình.
Vì sao lại có tục kéo vợ
Một cách để đôi trẻ tự quyết. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng kéo vợ giúp đôi trẻ đã ưng nhau đặt gia đình trước một việc đã rồi, nhất là khi bố mẹ còn đắn đo. Theo cách nhìn này, tục kéo vợ là một cách đôi lứa giành quyền tự chọn, chứ không phải ngược lại.
Một cách giảm gánh lễ cưới. Khi việc kéo vợ đã xong, hai nhà bàn lễ cưới trong thế đã thành thông gia, nhờ đó phần lễ có thể nhẹ hơn so với cưới hỏi đầy đủ từ đầu. Với những gia đình khó khăn, đây là con đường có thật để con cái lập gia đình.
Giữ thể diện cho cô gái và nhà gái. Việc cô gái tỏ ra chống cự là một quy ước: cô không tự đi theo người ta, và nhà gái không mất mặt. Người trong cộng đồng hiểu đó là lễ nghi, nhưng người ngoài nhìn vào rất dễ nhầm, và chính sự nhập nhằng này về sau bị lợi dụng.
Gắn với nếp sống quần cư theo dòng họ. Người Mông sống theo dòng họ, có những quy định chặt về việc ai được lấy ai, cấm kết hôn trong cùng họ. Kéo vợ diễn ra trong khung ấy, có người lớn của hai họ đứng ra giải quyết sau đó, không phải một hành động đơn lẻ ngoài vòng kiểm soát của cộng đồng.
Khi tục bị biến tướng thành cưỡng ép
Vấn đề bắt đầu khi bước "cô gái tỏ ra chống cự" bị lấy làm cớ để bỏ qua việc cô thật sự không đồng ý. Đã có những trường hợp được báo chí và cơ quan chức năng nêu: chàng trai chưa từng được cô gái nhận lời, hoặc cô gái còn đang đi học, vẫn bị nhóm bạn đưa về nhà; gia đình nhà gái bị đặt trước việc đã rồi; cô gái ở lại vì sợ điều tiếng, sợ không ai dám lấy nữa. Đó không phải tục kéo vợ theo nghĩa của người Mông mà là cưỡng ép kết hôn khoác áo phong tục.
Một dạng biến tướng khác là kéo vợ khi cô gái còn quá trẻ, chưa đủ tuổi kết hôn. Ở một số vùng, việc lấy vợ lấy chồng sớm từng khá phổ biến, nên kéo vợ thường đi kèm tảo hôn. Hậu quả rơi vào chính người con gái: bỏ học, mang thai sớm khi cơ thể chưa sẵn sàng, phụ thuộc hoàn toàn vào nhà chồng.
Nhiều người Mông, nhất là người trẻ, người có học, già làng, trưởng bản, đã lên tiếng phân biệt rõ hai chuyện này. Họ nói kéo vợ thật thì phải có hẹn, có thương nhau; còn bắt người không ưng mình về nhà thì không phải tục của cha ông. Cách phân biệt này quan trọng, vì nó giúp giữ phần đẹp của văn hoá mà không bao che cho hành vi sai trái.
Sau bước kéo vợ: ông mối, lễ cưới và lời hát của hai họ
Người ngoài thường chỉ nghe kể đến cảnh kéo vợ mà không biết phần tiếp theo mới là phần dài và nặng nhất. Theo nhiều mô tả, nhà trai cử ông mối, thường là người trong họ giỏi ăn nói, sang nhà gái báo tin và xin phép. Những lần sang ấy có rượu, có lời lẽ theo lối nói vần của người Mông, trong đó nhà trai nhận phần thiếu sót, xin nhà gái thương mà gả con. Nhà gái có thể đòi hỏi, có thể trách, rồi mới nhận lời.
Đến ngày cưới, đoàn nhà trai sang nhà gái đón dâu, có người thổi khèn đi cùng ở một số nơi. Trong bữa cỗ, các ông mối hai bên hát, nói đối đáp với nhau, nhắc lại chuyện hai họ, dặn dò đôi vợ chồng trẻ. Cô dâu về nhà chồng, có những nghi thức để được nhận làm người trong nhà theo nếp của dòng họ bên chồng. Ít lâu sau, đôi vợ chồng về thăm nhà gái.
Tức là trong nếp cũ, kéo vợ luôn được nối tiếp bằng sự thừa nhận công khai của hai họ và cả bản. Chính phần nối tiếp này cho thấy tục không phải chuyện riêng của chàng trai, và nếu thiếu sự đồng ý của cô gái và nhà gái thì cả chuỗi lễ phía sau không còn ý nghĩa.
Phân biệt kéo vợ theo tục và cưỡng ép kết hôn
Bảng dưới gom những dấu hiệu giúp phân biệt. Bất kỳ trường hợp nào thuộc cột bên phải đều không được bảo vệ bởi phong tục.
| Câu hỏi | Kéo vợ theo tục | Cưỡng ép kết hôn |
|---|---|---|
| Hai người đã tìm hiểu, ưng nhau chưa? | Đã ưng nhau, thường có hẹn trước | Cô gái chưa nhận lời hoặc đã từ chối |
| Cô gái có quyền ra về không? | Có, nếp cũ chấp nhận cô gái về nhà nếu không ưng | Bị giữ lại, bị đe doạ, bị ép bằng điều tiếng |
| Tuổi của hai người | Đủ tuổi kết hôn theo luật | Một hoặc cả hai chưa đủ tuổi |
| Gia đình nhà gái có được báo, được bàn không? | Được báo ngay, hai họ bàn bạc đàng hoàng | Bị đặt trước việc đã rồi, không có lựa chọn |
| Sau đó có đăng ký kết hôn không? | Có, khi đủ điều kiện | Thường sống chung không đăng ký |
Khi thấy những dấu hiệu ở cột phải, người trong cuộc hoặc người biết chuyện có thể báo trưởng bản, công an xã hoặc chính quyền xã. Người ngoài cộng đồng, như thầy cô giáo, cán bộ y tế, cũng có thể là người đầu tiên nhận ra và nên lên tiếng.
Pháp luật hiện hành nói gì
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đặt ra những điều kiện mà mọi cuộc hôn nhân ở Việt Nam đều phải đáp ứng, không phân biệt dân tộc. Nam từ đủ 20 tuổi, nữ từ đủ 18 tuổi mới được kết hôn. Việc kết hôn do hai bên tự nguyện quyết định. Luật cấm cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn, cấm tảo hôn, và cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ hoặc có họ trong phạm vi ba đời.
Ngoài trách nhiệm hành chính, Bộ luật Hình sự hiện hành có các tội danh về cưỡng ép kết hôn và tổ chức tảo hôn, áp dụng khi hành vi đủ yếu tố cấu thành. Mức xử lý cụ thể phụ thuộc từng vụ việc; nếu bạn đang gặp chuyện thật, hãy hỏi cán bộ tư pháp xã hoặc luật sư để được hướng dẫn theo văn bản đang có hiệu lực.
Luật cũng tôn trọng phong tục. Nhà nước khuyến khích giữ những tập quán tốt đẹp về hôn nhân của các dân tộc, miễn là không trái với các nguyên tắc của luật. Nghĩa là phần hát đối, thổi khèn, tục hẹn hò, lễ cưới theo nếp dòng họ đều có thể giữ; phần đưa người không đồng ý về nhà, hay cưới người chưa đủ tuổi, thì không. Đăng ký kết hôn tại uỷ ban nhân dân cấp xã là bước để cuộc hôn nhân được pháp luật công nhận, bảo vệ quyền của người vợ, người chồng và con cái sau này.
Cộng đồng người Mông đang giữ phần đẹp, bỏ phần sai thế nào
Ở nhiều nơi, thay đổi đến từ bên trong cộng đồng chứ không chỉ từ lệnh cấm. Những cách làm hay được nhắc gồm:
- Đưa vào quy ước của bản, của dòng họ: nhiều dòng họ người Mông thống nhất không kéo vợ khi cô gái chưa đồng ý, chưa đủ tuổi, coi đó là việc làm xấu mặt cả họ.
- Vai trò của người có uy tín: trưởng họ, già làng, trưởng bản được mời đứng ra khi có chuyện kéo vợ, hỏi thẳng ý cô gái trước mặt hai gia đình.
- Giữ trường học: thầy cô ở các trường bán trú, nội trú theo sát học sinh nữ, vận động gia đình cho con học hết cấp, nhờ vậy tuổi lấy chồng cao dần lên.
- Giữ phần lễ hội: các dịp hát đối, chợ phiên, Tết vẫn là nơi trai gái gặp gỡ, tìm hiểu tự do; phần lãng mạn của tục hẹn hò được giữ nguyên.
- Lễ cưới gọn và đúng luật: nhiều đôi làm đăng ký kết hôn trước, rồi tổ chức lễ theo nếp dòng họ, vừa đủ lễ với tổ tiên vừa có giấy tờ.
Những thay đổi này không biến người Mông thành ai khác. Tiếng khèn trong đám cưới, câu hát giao duyên, nếp dòng họ vẫn còn đó. Thứ được bỏ đi chỉ là phần làm tổn thương người con gái, vốn cũng không phải tinh thần ban đầu của tục.
Câu hỏi thường gặp
Kéo vợ có phải là bắt cóc không?
Theo tục truyền thống, kéo vợ diễn ra khi đôi trai gái đã ưng nhau và có hẹn, cô gái có quyền ra về nếu không đồng ý. Khi cô gái không đồng ý mà vẫn bị đưa đi, giữ lại, đó là cưỡng ép kết hôn và vi phạm pháp luật.
Vì sao cô gái lại tỏ ra chống cự khi được kéo về?
Đó là một quy ước lễ nghi trong nếp cũ, để cho thấy cô gái không tự đi theo người ta và giữ thể diện cho gia đình. Chính vì quy ước này mà người ngoài dễ hiểu nhầm, và kẻ xấu dễ lợi dụng để biện minh.
Tục kéo vợ hiện nay có bị cấm không?
Pháp luật không cấm phong tục hẹn hò, cưới hỏi theo nếp dân tộc, nhưng cấm cưỡng ép kết hôn, cấm tảo hôn. Kéo vợ khi cô gái đồng ý, đủ tuổi và sau đó đăng ký kết hôn thì không trái luật.
Tuổi kết hôn theo luật Việt Nam là bao nhiêu?
Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nam từ đủ 20 tuổi và nữ từ đủ 18 tuổi mới được kết hôn. Quy định này áp dụng cho mọi công dân, không phân biệt dân tộc hay nơi sinh sống.
Nếu biết một trường hợp bị ép kéo về làm vợ thì nên làm gì?
Bạn có thể báo trưởng bản, công an xã hoặc uỷ ban nhân dân cấp xã, hoặc nhờ thầy cô, cán bộ y tế quen biết chuyển lời. Việc cần nhất là để cô gái được hỏi ý riêng, an toàn, không có người nhà trai ép buộc.
Tất cả người Mông đều còn giữ tục kéo vợ phải không?
Không. Mức giữ tục khác nhau theo nhóm, theo vùng và theo gia đình. Nhiều đôi người Mông ngày nay tìm hiểu, dạm hỏi và cưới theo cách thông thường, có nơi chỉ còn giữ kéo vợ như một nghi thức tượng trưng.