Hủ tục là những phong tục, tập quán đã lỗi thời và gây hại rõ ràng cho con người hoặc cộng đồng, chẳng hạn làm tổn hại sức khoẻ, gây nợ nần nặng nề, hoặc tước đi quyền tự quyết, quyền được học hành của một người. Chữ "hủ" nghĩa là mục nát, cũ hỏng. Gọi một tục là hủ tục là một nhận định nặng, nên cần căn cứ, không thể dựa vào cảm giác thấy lạ hay thấy không quen.
Bài này đưa ra một cách nhận diện dựa trên tác hại cụ thể, nêu các ví dụ thường được nhắc trong văn bản pháp luật và tài liệu văn hoá, phân biệt hủ tục với tục khác lạ, và kể lại cách nhiều cộng đồng đã tự điều chỉnh tục của mình. Nguyên tắc xuyên suốt là tôn trọng người trong cuộc: phê phán một tục không có nghĩa là coi thường những người đang giữ nó.
Nghĩa chữ và vì sao cần thận trọng khi dùng
"Hủ tục" ghép từ "hủ" là mục nát, cũ hỏng và "tục" là thói quen, phong tục. Từ này đối lập với "mỹ tục" là tục đẹp. Trong ngôn ngữ báo chí và văn bản quản lý, cụm "hủ tục lạc hậu" xuất hiện khá thường xuyên, nhất là trong các chương trình vận động xây dựng nếp sống mới ở vùng nông thôn và vùng dân tộc thiểu số.
Thận trọng là cần thiết vì hai lẽ. Thứ nhất, gọi tục của người khác là hủ tục dễ làm tổn thương lòng tự trọng của cả cộng đồng ấy, khiến họ phòng thủ chứ không muốn thay đổi. Thứ hai, rất nhiều tục bị người ngoài gọi là hủ tục thực ra chỉ là tục khác lạ với họ, không gây hại cho ai. Lịch sử từng có những giai đoạn người ta vận động bỏ cả những tục chẳng có hại gì, rồi sau đó phải tốn công khôi phục.
Vì vậy, thay vì hỏi "tục này có lạ không", hãy hỏi "tục này gây hại cụ thể cho ai, hại gì, có cách nào giữ phần ý nghĩa mà bỏ phần gây hại không". Câu hỏi ấy giúp người viết, người làm công tác văn hoá và chính người trong cộng đồng nói chuyện với nhau trên cùng một nền.
Bốn tiêu chí nhận diện một hủ tục
Một tục có thể bị coi là hủ tục khi gây ra ít nhất một trong các tác hại dưới đây một cách rõ ràng, lặp lại, không phải chuyện cá biệt. Bảng chỉ là khung tham khảo để suy nghĩ.
| Tiêu chí | Câu hỏi để tự kiểm | Ví dụ thường được nêu |
|---|---|---|
| Hại sức khoẻ, tính mạng | Tục này có làm người ta ốm, bị thương, lây bệnh không? | Kiêng cữ sau sinh quá mức như nằm than, kiêng tắm rửa lâu ngày; để thi hài lâu ngày trong nhà khi có tang |
| Hại kinh tế gia đình | Tục này có khiến gia đình vay nợ, bán tài sản, nghèo đi không? | Thách cưới quá cao; ăn uống linh đình nhiều ngày trong đám cưới, đám tang |
| Xâm phạm quyền con người | Tục này có tước quyền tự quyết, quyền học hành, quyền an toàn của ai không? | Tảo hôn; ép cưới, cưỡng ép kết hôn; ngăn con gái đi học |
| Hại cộng đồng, môi trường | Tục này có làm ô nhiễm, mất an toàn chung, chia rẽ cộng đồng không? | Đốt quá nhiều đồ mã gây khói bụi và cháy nổ; chôn cất ở nơi ảnh hưởng nguồn nước |
Điều quan trọng là xét theo tác hại thật, có thể chỉ ra được, không xét theo việc tục đó trông có lạ mắt hay không. Một tục lạ mà không hại ai thì không có lý do gì để gọi là hủ tục.
Hủ tục trong hôn nhân và pháp luật hiện hành
Lĩnh vực hôn nhân là nơi ranh giới giữa tục và luật được nói rõ nhất. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định tuổi kết hôn là nam từ đủ 20 tuổi, nữ từ đủ 18 tuổi; việc kết hôn phải do hai bên tự nguyện quyết định; cấm tảo hôn, cấm cưỡng ép kết hôn, cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ và giữa những người có họ trong phạm vi ba đời. Các văn bản hướng dẫn luật này còn nêu danh mục những tập quán cần vận động xoá bỏ, như tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, thách cưới cao.
Nhờ vậy, ranh giới được nói rõ: một tục cưới dẫn tới việc người chưa đủ tuổi phải lấy vợ, lấy chồng, hay người con gái bị đưa về nhà trai khi không đồng ý, là vi phạm pháp luật, dù nó được gọi bằng tên một tục truyền thống. Phần nghi thức đẹp đi kèm, như hát đối đáp, trao vật làm tin, mời họ hàng chứng kiến, thì vẫn có thể giữ.
Hôn nhân cận huyết là một ví dụ khác, liên quan cả tới sức khoẻ thế hệ sau. Ngành y tế đã nhiều lần cảnh báo nguy cơ bệnh di truyền tăng lên khi cha mẹ có quan hệ huyết thống gần. Đây là lý do nhiều địa phương đưa nội dung này vào hương ước, quy ước mới của thôn bản. Pháp luật có thể thay đổi, nên khi cần căn cứ chính xác, bạn hãy đọc văn bản hiện hành.
Vì sao một hủ tục vẫn tồn tại dù ai cũng thấy hại
Sợ dư luận. Trong cộng đồng gắn bó chặt, ai làm khác đi dễ bị nói là keo kiệt, bất hiếu, không biết lễ. Nhiều gia đình biết thách cưới cao hay ăn uống nhiều ngày là tốn kém, nhưng vẫn làm vì không muốn mang tiếng. Đây là lý do thay đổi phải là thoả thuận chung, không thể trông vào từng nhà.
Tục gắn với một nhu cầu thật. Thách cưới ở nhiều nơi xưa phần nào là cách nhà gái được bù đắp khi mất đi một lao động; ăn uống đông người trong tang lễ là cách báo đáp những người đến giúp. Khi nhu cầu gốc ấy được đáp ứng bằng cách khác, tục gây hại mới dễ bỏ.
Thiếu thông tin. Những tác hại về sức khoẻ như của nằm than sau sinh hay hôn nhân cận huyết không phải ai cũng biết, nhất là ở nơi xa cơ sở y tế. Khi được giải thích bằng ví dụ gần gũi, nhiều gia đình tự đổi cách làm.
Tục gắn với niềm tự hào. Với nhiều cộng đồng, giữ tục là giữ bản sắc. Nếu việc vận động bỏ một phần tục bị cảm nhận như bị chê bai cả nền văn hoá, người ta sẽ giữ chặt hơn. Vì thế cần nói rõ phần nào gây hại và khẳng định những phần đẹp còn lại.
Hủ tục khác tục lạ, khác mê tín ở đâu
Tục lạ không phải hủ tục. Cách ăn mặc, cách làm nhà, cách tổ chức tang lễ khác với vùng mình không làm nên hủ tục. Một dân tộc chôn cất theo cách riêng, một vùng có tục đón dâu bằng thuyền, một bản tổ chức Tết vào tháng khác, tất cả đều là đa dạng văn hoá. Giật tít "tục lạ", "kỳ dị" khi viết về chúng là một cách nhìn thiếu tôn trọng.
Mê tín là chuyện niềm tin, hủ tục là chuyện thực hành gây hại. Mê tín dị đoan là tin vào những điều phi lý tới mức gây hại, như bỏ chữa bệnh ở cơ sở y tế để nhờ thầy cúng. Hủ tục là một tập quán gây hại được duy trì trong cộng đồng. Hai thứ có thể chồng lên nhau nhưng không phải là một; có hủ tục chẳng dính gì tới niềm tin, như thách cưới cao.
Một tục có thể có phần tốt và phần hại. Rất ít tục hoàn toàn xấu. Kiêng cữ sau sinh có phần hợp lý là cho người mẹ nghỉ ngơi, giữ ấm; phần gây hại là kiêng tắm quá lâu hay hơ lửa than gần. Cách tiếp cận hợp lý là tách hai phần ra, giữ phần tốt, bỏ phần hại, thay vì bỏ cả tục.
Cộng đồng tự thay đổi một hủ tục như thế nào
Kinh nghiệm ở nhiều địa phương cho thấy thay đổi bền nhất là thay đổi do chính cộng đồng quyết định. Các bước dưới đây được tổng hợp từ cách làm thường được nhắc tới trong các chương trình xây dựng nếp sống mới.
- Người có uy tín trong cộng đồng như già làng, trưởng họ, trưởng bản, người làm lễ cùng ngồi lại bàn xem tục nào đang gây khó khăn cho bà con, bằng ví dụ thật trong bản, trong làng.
- Tách phần ý nghĩa và phần gây hại của tục đó. Ví dụ đám tang vẫn giữ nghi thức tiễn đưa, nhưng rút ngắn thời gian để thi hài trong nhà, giảm số ngày ăn uống.
- Đưa thoả thuận chung vào hương ước, quy ước của thôn bản để ai cũng biết và cùng làm, tránh tình trạng nhà này giản lược bị nhà khác chê.
- Một vài gia đình có uy tín làm trước, cộng đồng nhìn thấy kết quả thật, rồi lan dần ra.
- Hội phụ nữ, đoàn thanh niên, nhà trường cùng tham gia giải thích cho người trẻ, nhất là về tuổi kết hôn và quyền tự quyết.
- Sau một thời gian, cộng đồng ngồi lại xem điều gì đã chạy được, điều gì cần chỉnh, thay vì coi thoả thuận ban đầu là bất biến.
Cách làm từ trên áp xuống, kèm lời lẽ chê bai, thường chỉ khiến tục bị giữ lén lút chứ không mất đi. Tôn trọng là điều kiện để thay đổi.
Ứng xử với người còn giữ một tục bị coi là hủ tục
Người còn giữ một tục cũ thường có lý do của họ: sợ bị họ hàng chê, sợ thiếu lễ với tổ tiên, hoặc đơn giản là chưa từng thấy cách làm nào khác. Bêu riếu họ trên mạng xã hội hay trong bài viết không giúp gì mà còn đẩy họ ra xa. Khi viết, tránh đưa hình ảnh nhận ra mặt, tên tuổi của gia đình cụ thể.
Nếu bạn là người thân, cách hiệu quả là trò chuyện riêng, bắt đầu từ điều cả hai cùng quan tâm như sức khoẻ của mẹ và bé, tương lai học hành của con, món nợ sau đám cưới. Đưa ra một phương án thay thế cụ thể, có thể làm ngay, dễ được chấp nhận hơn là bảo "bỏ đi".
Riêng những trường hợp có dấu hiệu vi phạm pháp luật như tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, bạo lực, cần báo cho chính quyền cấp xã, phường hoặc các tổ chức bảo vệ trẻ em, phụ nữ ở địa phương. Đó không phải là chuyện phong tục nữa mà là chuyện bảo vệ một con người.
Câu hỏi thường gặp
Hủ tục là gì?
Hủ tục là phong tục, tập quán đã lỗi thời và gây hại rõ ràng cho con người hoặc cộng đồng, như làm tổn hại sức khoẻ, gây nợ nần nặng nề, hay tước quyền tự quyết của một người. Chữ hủ nghĩa là mục nát, cũ hỏng; hủ tục đối lập với mỹ tục.
Làm sao biết một tục có phải là hủ tục không?
Hãy xét theo tác hại cụ thể: tục đó có hại sức khoẻ, hại kinh tế gia đình, xâm phạm quyền con người hoặc hại cộng đồng, môi trường không. Một tục chỉ lạ mắt với người ngoài mà không gây hại cho ai thì không nên gọi là hủ tục.
Tảo hôn có phải là hủ tục không?
Tảo hôn được coi là một tập quán cần xoá bỏ và bị pháp luật cấm. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định tuổi kết hôn là nam từ đủ 20, nữ từ đủ 18 tuổi. Tảo hôn ảnh hưởng tới sức khoẻ sinh sản, việc học và tương lai của người trẻ.
Hủ tục và mê tín dị đoan khác nhau thế nào?
Mê tín dị đoan là tin vào điều phi lý tới mức gây hại, chẳng hạn bỏ chữa bệnh để nhờ người cúng bái. Hủ tục là một tập quán gây hại được duy trì trong cộng đồng. Hai thứ có thể đi cùng nhau, nhưng có hủ tục không liên quan gì tới niềm tin, như thách cưới cao.
Có nên bỏ hẳn một tục chỉ vì nó có phần gây hại?
Không nhất thiết. Nhiều tục có cả phần ý nghĩa tốt và phần gây hại. Cách làm hợp lý là giữ phần tốt, bỏ hoặc điều chỉnh phần hại, ví dụ vẫn giữ nghi thức tiễn đưa trong tang lễ nhưng rút ngắn thời gian và giảm ăn uống linh đình.
Thấy trường hợp tảo hôn hay ép cưới thì nên làm gì?
Đây là hành vi vi phạm pháp luật, không còn là chuyện phong tục. Bạn nên báo cho chính quyền cấp xã, phường hoặc tổ chức bảo vệ trẻ em, phụ nữ ở địa phương. Nếu là người thân, hãy trò chuyện với gia đình bằng sự tôn trọng và đưa ra phương án cụ thể.