Theo nếp truyền thống, người Mông ăn Tết vào tháng Chạp âm lịch, tức là sớm hơn Tết Nguyên đán của người Kinh chừng một tháng, vì đó là lúc ngô lúa trên nương đã thu xong và người vùng cao có khoảng nghỉ dài nhất trong năm. Người Mông thường gọi Tết của mình là Nào Pê Chầu (cũng gặp cách viết Noz Pê Chuô, Nào pê chầu), nghĩa thường được giải thích là "ăn Tết tháng Mười hai" hay "ăn tháng ba mươi".
Ngày nay ở nhiều xã vùng cao, người Mông đã chuyển sang ăn Tết cùng thời điểm với Tết Nguyên đán, có nơi vẫn giữ Tết Mông ở trong nhà và ăn thêm Tết chung với cả xã. Bài này đi qua những nét chung của Tết Mông theo ghi chép dân tộc học và lời kể ở các bản: vì sao Tết sớm, những việc chuẩn bị, tục cho nông cụ nghỉ, ba ngày đầu năm, các cuộc vui của trai gái, và cách một người khách nên cư xử khi được mời đến ăn Tết. Người Mông có nhiều nhóm như Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Đen, Mông Xanh; tục mỗi nhóm, mỗi dòng họ có chỗ khác nhau.
Vì sao người Mông ăn Tết sớm hơn người Kinh
Lời giải thích phổ biến nhất nằm ở nhịp mùa vụ. Trên núi đá vùng cao phía Bắc, ngô và lúa nương thường thu hoạch xong vào khoảng tháng Mười, tháng Mười một âm lịch. Sau đó là mùa rét, đất khô, chưa thể làm nương mới. Đó là quãng nông nhàn dài nhất trong năm, kho đã có lương thực, lợn đã béo, nên người Mông chọn lúc này để ăn Tết, tạ ơn tổ tiên và nghỉ ngơi sau một năm làm lụng. Tết của người Mông vì thế gắn với cái lịch của đất và của cây ngô hơn là với một ngày cố định trên lịch.
Cũng vì gắn với mùa vụ nên ngày Tết Mông không giống nhau tuyệt đối giữa các vùng và các dòng họ. Theo nhiều mô tả, Tết thường bắt đầu vào những ngày cuối tháng Chạp hoặc đầu tháng Chạp tuỳ nơi; có dòng họ ăn trước, dòng họ khác ăn sau vài ngày. Người lớn tuổi trong bản thường là người nhớ và nhắc ngày.
Một cách nói hay gặp là Tết Mông "kéo dài cả tháng". Thực ra những ngày Tết chính thường chỉ vài ngày, nhưng không khí Tết, việc đi thăm nhau, các cuộc vui của trai gái có thể kéo dài nhiều ngày sau đó, nối sang cả dịp Tết Nguyên đán. Vì vậy khi nghe người Mông nói "đang ăn Tết", bạn nên hiểu là đang trong mùa Tết, không phải đang trong một ngày cụ thể.
Chuẩn bị Tết trong một nhà người Mông
Việc chuẩn bị thường bắt đầu từ trước Tết nhiều tuần. Phần lớn là công việc của cả nhà, có khi cả họ cùng giúp nhau.
- Giã bánh dày. Xôi nếp nương đồ chín được đổ vào máng gỗ, hai người đàn ông khoẻ cầm chày gỗ giã cho đến khi dẻo mịn, rồi nặn thành bánh tròn. Bánh dày là món không thể thiếu trong Tết Mông, vừa dùng để dâng tổ tiên vừa làm quà, vừa để ăn dần trong những ngày rét.
- Mổ lợn Tết. Nhiều gia đình nuôi một con lợn riêng cho Tết. Thịt dùng trong bữa Tết, phần còn lại được gác bếp để ăn dần. Ở nơi điều kiện khó khăn, vài nhà chung nhau một con.
- Rượu ngô. Rượu được nấu từ trước để mời khách và dùng trong bữa Tết; cách nấu và men mỗi bản một khác.
- Quần áo mới. Phụ nữ Mông thường se lanh, dệt vải, nhuộm chàm, thêu và may váy áo trong suốt cả năm để kịp có bộ mới mặc Tết. Bộ váy mới là niềm tự hào của người mặc và của cả gia đình.
- Dọn nhà, chẻ củi. Củi được chẻ và xếp đủ dùng những ngày đầu năm, vì nhiều nhà kiêng làm việc nặng trong mấy ngày Tết.
- Làm quả pao, con quay. Thanh niên khâu quả pao bằng vải nhiều màu, làm con quay gỗ để dùng trong các cuộc vui đầu năm.
Danh sách trên là việc hay gặp, không phải nhà nào cũng đủ. Điều chung là cả nhà cùng làm, và việc chuẩn bị đã là một phần của Tết chứ không chỉ là việc phải xong cho kịp.
Tục dán giấy bản: cho cột nhà, nông cụ và chuồng trại "ăn Tết"
Một tục được nhiều người nhắc khi nói về Tết Mông là dán những mảnh giấy bản (giấy trắng thô làm thủ công) lên cột nhà, cửa, nơi thờ cúng, và lên các đồ dùng quan trọng như cày, cuốc, dao, cối xay ngô, chuồng trâu, chuồng ngựa. Theo cách giải thích phổ biến trong cộng đồng, việc dán giấy là để báo rằng những đồ vật ấy cũng được nghỉ, được "ăn Tết" sau một năm cùng con người làm việc vất vả, đồng thời bày tỏ lòng biết ơn với những vật đã giúp gia đình có cái ăn.
Đi kèm với tục này, ở nhiều nhà, những ngày Tết chính người ta không dùng đến nông cụ, không ra nương làm việc. Đây vừa là phần tín ngưỡng, vừa là một cách để cả nhà thật sự nghỉ ngơi. Một số nhà còn buộc giấy hay dán giấy lên sừng trâu, lên yên ngựa; cách làm cụ thể khác nhau tuỳ dòng họ.
Việc thờ cúng trong Tết Mông diễn ra ở nơi thờ trong nhà, gắn với tổ tiên và các vị thần mà người Mông tin là che chở cho gia đình. Phần nghi lễ do chủ nhà hoặc người hiểu lễ trong họ thực hiện, mỗi dòng họ có lệ riêng. Nếu được mời dự, bạn chỉ cần đứng ngoài quan sát, không tự ý chạm vào nơi thờ hay các mảnh giấy đã dán.
Những ngày đầu năm: ở nhà trước, đi chơi sau
Đêm giao thừa và sáng đầu năm. Theo nhiều mô tả, đêm cuối năm cả nhà quây quần bên bếp lửa, người lớn nhắc chuyện làm ăn năm cũ, chuẩn bị bữa đầu năm. Sáng hôm sau là bữa cơm Tết với bánh dày, thịt lợn, rượu ngô, con cháu chúc người già.
Ngày đầu thường ở trong nhà. Ở nhiều bản, ngày đầu năm người ta ít đi lại nhà nhau, giữ trong gia đình. Có nơi kiêng người ngoài vào nhà trong ngày đầu, và báo hiệu bằng một dấu hiệu ở cổng như cành lá cắm trước cửa. Người đến chơi nhìn thấy dấu hiệu ấy thì nên quay lại hôm khác.
Những ngày sau mới đi thăm. Từ ngày thứ hai, thứ ba, người ta bắt đầu đi thăm họ hàng, thăm nhà vợ, nhà thông gia, mang theo bánh dày, rượu. Đây cũng là dịp người trong dòng họ gặp nhau đông đủ nhất trong năm.
Khèn trong ngày Tết. Tiếng khèn Mông vang trong nhiều ngày Tết, người thổi vừa thổi vừa múa. Khèn không chỉ để vui; trong văn hoá Mông, tiếng khèn còn được coi là lời nói, thay người thổi gửi tâm tình. Người già thường thích nghe các bài khèn cũ trong dịp này.
Kiêng làm việc nặng. Nhiều nhà giữ nếp không làm việc nặng, không mang nông cụ ra dùng trong những ngày Tết chính. Hết Tết, người ta tháo bỏ giấy dán trên nông cụ trước khi dùng lại; thời điểm cụ thể tuỳ dòng họ.
Ném pao, đánh quay và chợ Tết: những cuộc vui đầu năm
Sau những ngày ở nhà, các khoảng đất rộng trong bản trở thành nơi vui chơi. Cuộc vui quen thuộc nhất là ném pao: trai gái đứng thành hai hàng đối diện, tung qua tung lại quả pao bằng vải có tua. Người bắt hụt có khi phải "nộp" một món đồ nhỏ như khăn, vòng, và muốn chuộc lại thì phải hát hoặc nói chuyện với người kia. Ném pao vì thế là một cách làm quen, tìm hiểu nhau rất tự nhiên của thanh niên Mông.
Con trai thì có đánh quay: con quay bằng gỗ cứng được quấn dây rồi bổ vào con quay của đối phương. Ngoài ra còn có đua ngựa ở những nơi nuôi nhiều ngựa, bắn nỏ, và các buổi hát giao duyên. Trên đường đi chơi Tết, phụ nữ mặc bộ váy mới nhất, đeo vòng bạc, tạo nên những màu sắc rực rỡ giữa nền núi đá xám.
Chợ phiên trong mùa Tết cũng đông hơn ngày thường. Người ta đi chợ để mua sắm, gặp bạn bè, uống rượu, nghe khèn. Lễ hội Gầu Tào hay Sải sán của người Mông là một sinh hoạt khác thường gắn với đầu năm, do gia đình hoặc cộng đồng tổ chức; nếu muốn tìm hiểu kỹ, nên đọc riêng về lễ hội ấy thay vì gộp chung với Tết.
Tết Mông hôm nay: chuyển sang Tết chung hay giữ cả hai
Từ nhiều năm nay, ở nhiều địa phương vùng cao như Tuyên Quang (gồm cả Hà Giang cũ), Lào Cai, Điện Biên, Sơn La, Lai Châu, chính quyền và người có uy tín trong cộng đồng đã vận động bà con người Mông ăn Tết cùng dịp Tết Nguyên đán. Lý do được nêu thường là để con em đi học, người đi làm không phải nghỉ hai lần, tránh kéo dài thời gian nghỉ và chi tiêu. Nhiều bản đã chuyển theo, nhiều nơi khác giữ phần nghi lễ Tết Mông trong gia đình rồi vẫn vui Tết chung với cả xã.
Việc chuyển đổi này không đồng đều. Có dòng họ chuyển cả, có dòng họ giữ, có gia đình làm lễ nhỏ theo Tết cũ để nhớ tổ tiên. Người Mông di cư vào Tây Nguyên, như ở Đắk Lắk, Lâm Đồng, có nơi vẫn giữ Tết theo tháng Chạp. Khi viết hay kể về Tết Mông, bạn nên ghi rõ đang nói về bản nào, dòng họ nào, thời điểm nào, thay vì khẳng định "người Mông ăn Tết ngày…".
Nhiều thứ vẫn còn đậm trong mùa Tết dù ăn vào dịp nào: bánh dày, khèn, ném pao, bộ váy mới, tục dán giấy lên nông cụ. Những sinh hoạt ấy giờ cũng được đưa vào các ngày hội văn hoá, lễ hội du lịch. Phần dàn dựng cho đông người xem và phần giữ trong nhà là hai lớp khác nhau; muốn hiểu Tết Mông thật sự, nghe người già trong bản kể vẫn là cách tốt nhất.
Đến ăn Tết ở nhà người Mông: nên và tránh
Nếu bạn được người quen người Mông mời về ăn Tết, những điểm sau giúp bạn làm khách cho phải phép. Mỗi bản một nếp, nên khi không chắc thì hỏi chủ nhà.
| Tình huống | Nên | Tránh |
|---|---|---|
| Đến nhà | Hỏi trước ngày nào tiện, đến sau ngày đầu năm nếu chủ nhà không mời từ trước | Bước vào khi thấy dấu hiệu kiêng (cành lá, vật cắm ở cổng) |
| Trong nhà | Ngồi theo chỗ chủ nhà mời, để ý gian thờ và cột chính | Chạm vào nơi thờ, giấy dán trên cột hay nông cụ |
| Bữa Tết | Nhận bánh dày, ăn cùng gia đình, nói lời cảm ơn | Chê món ăn, bỏ thừa nhiều |
| Rượu | Uống ít, từ chối khéo khi đã đủ hoặc phải lái xe | Ép người khác uống, say rồi đi xe trên đường đèo |
| Chụp ảnh | Hỏi trước khi chụp người và nghi lễ | Chụp cận mặt người già, trẻ em khi chưa được đồng ý |
| Quà mang theo | Quà vừa phải: bánh kẹo, chè, đồ dùng cho trẻ | Mang quà quá đắt khiến chủ nhà ngại trả lễ |
Một cử chỉ được quý là hỏi người già về ý nghĩa của những gì bạn thấy. Người Mông vùng cao thường rất vui khi khách thật lòng muốn hiểu Tết của họ, thay vì chỉ đến để chụp ảnh.
Câu hỏi thường gặp
Tết Mông rơi vào ngày nào dương lịch?
Không có một ngày dương lịch cố định. Theo nếp cũ, Tết Mông rơi vào tháng Chạp âm lịch, thời điểm cụ thể tuỳ vùng và dòng họ. Ngày nay nhiều nơi đã ăn Tết cùng dịp Tết Nguyên đán, nên muốn biết ngày cụ thể ở một bản, bạn nên hỏi trực tiếp người trong bản hoặc cán bộ văn hoá xã.
Nào Pê Chầu nghĩa là gì?
Đây là tên người Mông thường dùng để gọi Tết của mình, có nhiều cách phiên âm khác nhau. Nghĩa thường được giải thích liên quan đến việc ăn Tết vào tháng cuối năm. Vì là từ tiếng Mông phiên sang chữ Quốc ngữ, khi viết bạn nên ghi kèm "còn gọi là…" để người đọc nhận ra.
Vì sao người Mông dán giấy lên cày cuốc?
Theo cách giải thích phổ biến trong cộng đồng, dán giấy là để báo những đồ dùng ấy được nghỉ, được ăn Tết sau một năm làm việc cùng con người, và để tỏ lòng biết ơn. Trong những ngày Tết chính, nhiều nhà không dùng nông cụ, hết Tết mới tháo giấy ra.
Ném pao có ý nghĩa gì?
Ném pao là cuộc vui đầu năm của trai gái Mông, hai bên tung qua lại quả pao bằng vải. Đây là dịp làm quen, trò chuyện, hát đối, tìm hiểu nhau. Người đến xem có thể đứng ngoài cổ vũ; muốn tham gia thì nên hỏi người trong bản xem có phù hợp không.
Người Mông có còn ăn Tết riêng không?
Còn, nhưng không đều. Nhiều bản đã chuyển sang ăn Tết cùng Tết Nguyên đán theo vận động của địa phương, có nơi giữ phần nghi lễ Tết Mông trong gia đình rồi vui Tết chung. Người Mông ở một số vùng di cư vẫn giữ Tết theo tháng Chạp.
Bánh dày của người Mông khác bánh dày người Kinh thế nào?
Bánh dày của người Mông thường làm từ nếp nương, giã trong máng gỗ lớn bằng chày gỗ, nặn thành bánh tròn to, thường không có nhân. Bánh vừa để dâng tổ tiên vừa để ăn dần trong mùa rét, có thể nướng trên bếp than khi bánh đã cứng lại.