Gọi thứ là tục gọi người theo thứ tự sinh trong nhà thay cho tên riêng: miền Bắc gọi con đầu là Cả, con thứ hai là Hai; từ miền Trung trở vào, con đầu lại được gọi là Hai, con thứ hai là Ba, và con cuối cùng ở đâu cũng là Út. Đi cùng tục này là cách gọi cha mẹ theo tên con, như "bố cu Tí", "mẹ cái Hoa" ở làng Bắc Bộ xưa.
Cả hai tục cùng xuất phát từ một nếp nghĩ: trong cộng đồng làng, con người được xác định qua vị trí trong gia đình hơn là qua cái tên riêng. Bài viết giải thích cách gọi ở từng vùng, các giả thuyết về chuyện "anh Hai" ở miền Nam, cách gọi theo tên con ở người Kinh và một số dân tộc khác, và gợi ý xưng hô cho những gia đình có dâu rể khác miền.
Gọi thứ ở miền Bắc và miền Nam khác nhau thế nào
Bảng so sánh cách gọi phổ biến trong một gia đình nhiều con. Ở miền Trung, cách gọi thay đổi theo từng vùng; nhiều nơi gần với miền Nam hơn.
| Thứ tự sinh | Miền Bắc thường gọi | Miền Nam thường gọi |
|---|---|---|
| Con đầu | Cả (anh Cả, chị Cả) | Hai (anh Hai, chị Hai) |
| Con thứ hai | Hai | Ba |
| Con thứ ba | Ba | Tư |
| Con thứ tư | Tư | Năm |
| Con thứ chín, thứ mười | Chín, Mười (ít dùng) | Mười, Mười Một |
| Con cuối | Út | Út; nếu đã có Út mà sinh thêm, có nhà gọi Út Nhỏ |
Ở miền Nam, chữ thứ còn được ghép trước tên để gọi người ngoài gia đình: chú Bảy Hùng, cô Tư Lan, anh Sáu Tâm. Người lớn tuổi ở nông thôn Nam Bộ đôi khi được cả xóm biết đến chỉ bằng thứ và một đặc điểm, đến mức tên thật trên giấy tờ lại ít người nhớ. Ở miền Bắc, gọi thứ phổ biến trong nhà (anh Cả, chị Hai) nhưng ít khi thay tên trong giao tiếp ngoài xã hội. Một người Bắc vào Nam sinh sống vì thế hay bị bất ngờ khi được gọi là "anh Ba" chỉ vì là con thứ hai, và ngược lại.
Vì sao miền Nam gọi con đầu là Hai: các cách giải thích
Chưa có một lời giải chắc chắn. Đây là câu hỏi được nhắc rất nhiều nhưng chưa có tài liệu gốc nào ghi rõ. Các cách giải thích dưới đây là những giả thuyết được truyền miệng và được một số nhà nghiên cứu văn hoá Nam Bộ nhắc tới, nên đọc như những khả năng.
Cha mẹ được coi là thứ nhất. Một cách giải thích cho rằng trong gia đình, cha mẹ đứng ở vị trí thứ nhất, nên người con đầu là thứ hai. Cách giải thích này đơn giản, dễ nhớ, nhưng khó giải thích vì sao miền Bắc không làm như vậy.
Tránh trùng với chức "cả" trong làng. Trong bộ máy làng ở Nam Bộ thời trước có những chức danh mang chữ "cả", như hương cả. Một số người cho rằng dân thường tránh gọi con là Cả để khỏi trùng với danh xưng của người có chức sắc.
Dấu vết của những đợt di dân. Cách giải thích khác gắn với những người đi khai khẩn đất phương Nam: lớp người đầu tiên vào khẩn hoang thường là con thứ, còn con cả ở lại giữ nhà thờ họ ngoài quê. Lâu dần người ta quen gọi con đầu ở vùng mới là Hai. Đây cũng chỉ là một giả thuyết, không có số liệu chứng minh.
Điều chắc chắn. Dù gốc là gì, cách gọi này đã ổn định qua nhiều thế hệ và không mang nghĩa tốt xấu. Gọi "anh Hai" ở miền Nam cũng trân trọng như gọi "anh Cả" ở miền Bắc.
Gọi cha mẹ theo tên con ở làng Bắc Bộ xưa
Ở nông thôn Bắc Bộ trước kia, khi một đôi vợ chồng có con đầu lòng, làng xóm thôi gọi tên riêng của họ và chuyển sang gọi theo tên đứa con. Có con trai đầu tên Tí thì người cha thành "bố cu Tí", "anh cu Tí", người mẹ thành "u cu Tí", "chị cu Tí". Có con gái đầu thì dùng chữ "đĩ", như "chị đĩ Hoa", "bu đĩ Hoa". Chữ "đĩ" trong cách gọi này là từ cũ chỉ bé gái, không mang nghĩa xấu như ngày nay; vì nghĩa của từ đã đổi nên bây giờ cách gọi ấy gần như biến mất.
Khi có cháu, người ta lại có thể gọi ông bà theo tên cháu nội đầu. Như vậy, cùng một người, qua mỗi chặng đời lại mang một cách gọi mới: tên riêng khi còn trẻ, tên theo con khi làm cha mẹ, tên theo cháu khi lên ông bà. Cách gọi ấy cho người nghe biết ngay người đó đang ở vai nào trong gia đình.
Nhà dân tộc học gọi hiện tượng này là "gọi tên theo con", có ở rất nhiều nền văn hoá trên thế giới. Ở làng Việt, nó còn gắn với tục kiêng huý: gọi thẳng tên một người đã có gia đình là thiếu lễ, còn gọi theo tên con vừa lịch sự vừa thân mật.
Gọi theo tên con ở các dân tộc khác
Nhiều dân tộc thiểu số ở Việt Nam cũng gọi cha mẹ theo tên con, thường còn chặt hơn người Kinh. Ở nhiều bản người Thái, sau khi có con đầu lòng, người cha được gọi bằng một chữ chỉ "bố" ghép với tên con, người mẹ bằng chữ chỉ "mẹ" ghép với tên con, và cách gọi ấy theo họ suốt nhiều năm. Một số dân tộc ở Tây Nguyên có lệ tương tự, đến mức tên gọi theo con trở thành tên chính của người cha trong cộng đồng.
Ở một số cộng đồng, người đàn ông còn nhận thêm một cái tên khi trưởng thành hoặc khi đã có gia đình, và từ đó tên lúc nhỏ ít được dùng. Mỗi dân tộc, thậm chí mỗi nhóm địa phương, có quy ước riêng, nên những cách gọi này nên được tìm hiểu qua chính người trong cộng đồng.
Với người Kinh đến sống hay làm việc ở vùng dân tộc, biết tục này giúp tránh vài tình huống khó xử: hỏi tên một người đàn ông lớn tuổi, bạn có thể nhận được tên gọi theo con thay vì tên trên giấy tờ. Cứ gọi theo cách người ấy tự giới thiệu là cách tôn trọng nhất.
Xưng hô với họ hàng: những chỗ hai miền hay lệch nhau
Ngoài gọi thứ, cách gọi họ hàng cũng khác nhau giữa các vùng. Danh sách dưới là các điểm hay khiến dâu rể khác miền lúng túng; mỗi gia đình có thể có lệ riêng.
- Anh, chị của cha mẹ: miền Bắc gọi chung là bác; ở miền Nam, anh chị của cha vẫn gọi bác, nhưng anh của mẹ thường gọi là cậu, chị của mẹ gọi là dì, không phân biệt lớn hay nhỏ hơn mẹ.
- Em trai của cha là chú, em gái của cha là cô; cách gọi này giống nhau ở hai miền.
- Chồng của cô ở miền Bắc gọi là chú, ở nhiều gia đình miền Nam gọi là dượng; chồng của dì cũng thường gọi là dượng ở miền Nam.
- Ở miền Nam, khi gọi họ hàng người ta hay ghép thứ: bác Hai, chú Ba, cô Tư, cậu Năm, dì Sáu; thứ ở đây là thứ của chính người được gọi trong nhà họ.
- Ở miền Bắc, cô dâu gọi bố mẹ chồng là "thầy u", "bố mẹ" hoặc "ông bà" tuỳ vùng và tuỳ thời; ở miền Nam thường là "ba má" hoặc "cha mẹ".
Khi mới về nhà chồng hay nhà vợ khác miền, cách đơn giản nhất là hỏi thẳng một người trong nhà về cách gọi từng người, rồi ghi lại. Không ai phật lòng vì một câu hỏi như vậy; điều làm người lớn phật lòng là gọi sai mãi mà không hỏi.
Tính thứ thế nào khi nhà có người mất sớm, con nuôi, con riêng
Anh chị mất sớm. Ở nhiều gia đình, người con mất khi còn nhỏ vẫn được tính vào thứ, nên có nhà người con sống đầu tiên lại được gọi là Ba hay Tư. Cũng có nhà không tính, gọi thứ theo những người con còn sống. Không có quy tắc chung, chỉ có lệ của từng nhà.
Con nuôi, con riêng. Con nuôi về từ nhỏ thường được xếp thứ theo tuổi như con đẻ. Với gia đình tái hôn, con riêng của hai bên có khi giữ thứ cũ trong gia đình gốc, có khi được xếp lại; cả nhà bàn với nhau, ưu tiên cách khiến bọn trẻ thấy mình không bị tách ra.
Sinh đôi. Người sinh trước thường được tính là anh hay chị, nhưng có quan niệm dân gian ở một số nơi lại coi người sinh sau là lớn. Ngày nay phần lớn gia đình theo thứ tự ra đời ghi trên giấy chứng sinh.
Gọi thứ của người ngoài. Khi nghe người miền Nam giới thiệu mình là "Sáu", đó là thứ của họ trong nhà cha mẹ, không đổi khi họ đi lấy vợ lấy chồng. Gọi lại đúng thứ ấy là phép lịch sự, không cần biết tên riêng.
Gọi thứ ngày nay: giữ để gần nhau hơn
Gia đình hiện nay ít con hơn, nên cách gọi thứ ít khi kéo dài tới Bảy, Tám như trước. Nhưng ở miền Nam, nhiều gia đình trẻ vẫn gọi con đầu là "Hai", con út là "Út", và trẻ con lớn lên trong những tiếng gọi ấy. Ở miền Bắc, "anh Cả", "chị Cả" vẫn được dùng khi nói tới vai trò của con trưởng trong việc thờ cúng, giữ nhà.
Gọi thứ có một cái hay mà tên riêng không có: nó nhắc mỗi người nhớ vị trí của mình trong một mạng lưới quan hệ. Người được gọi là "anh Hai" ở miền Nam thường được kỳ vọng lo cho em; "Út" thường được cả nhà cưng. Những kỳ vọng ấy có lúc thành gánh nặng, nhưng phần lớn là sợi dây gắn kết anh chị em.
Còn cách gọi cha mẹ theo tên con thì đã đổi hình thức mà không mất hẳn: ở trường, cô giáo gọi phụ huynh là "mẹ bạn Na", "bố bạn Bin"; trong khu phố, hàng xóm gọi nhau là "mẹ thằng Cún". Cách gọi ấy vẫn làm đúng việc cũ của nó: cho biết người đó là ai trong quan hệ với đứa trẻ.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao miền Nam gọi anh cả là anh Hai?
Chưa có lời giải chắc chắn. Các giả thuyết phổ biến gồm: cha mẹ được coi là thứ nhất; tránh trùng chức danh có chữ "cả" trong làng; hay gắn với những người con thứ đi khẩn hoang phương Nam. Dù gốc nào, cách gọi này không mang nghĩa tốt xấu.
Bố cu, mẹ đĩ nghĩa là gì?
Đây là cách gọi cha mẹ theo tên con đầu ở làng Bắc Bộ xưa. "Cu" chỉ bé trai, "đĩ" là từ cũ chỉ bé gái, không mang nghĩa xấu như ngày nay. Vì nghĩa của từ đã thay đổi, cách gọi với chữ "đĩ" gần như không còn dùng.
Ở miền Nam, anh trai của mẹ gọi là gì?
Thường gọi là cậu, không phân biệt lớn hay nhỏ tuổi hơn mẹ; chị gái của mẹ thường gọi là dì. Ở miền Bắc, anh chị của mẹ gọi là bác. Mỗi gia đình có thể có lệ riêng, nên khi mới về nhà nên hỏi lại.
Gọi thứ có còn dùng khi gia đình chỉ có một hai con?
Vẫn dùng, nhất là ở miền Nam: con đầu gọi Hai, con sau gọi Út. Nhiều người lớn lên vẫn được bạn bè gọi là "Hai", "Út" như một tên thân mật. Ở miền Bắc, cách gọi "anh Cả" vẫn còn trong các việc của dòng họ.
Làm việc ở vùng dân tộc, nên gọi người lớn tuổi thế nào?
Nên gọi theo cách chính người đó tự giới thiệu hoặc theo cách người trong bản gọi họ. Nhiều người lớn tuổi được biết đến bằng tên gọi theo con hoặc tên đặt khi trưởng thành, khác với tên trên giấy tờ; gọi đúng tên quen là cách thể hiện sự tôn trọng.
Con dâu miền Bắc về nhà chồng miền Nam nên chú ý gì về xưng hô?
Nên hỏi trước cách gọi từng người trong nhà, nhất là thứ của các anh chị và cách gọi họ hàng bên ngoại. Chú ý con đầu là "Hai", anh chị của mẹ chồng thường gọi là cậu, dì, chồng của cô, dì là dượng.