Trước đây, phần lớn phụ nữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam sinh con tại nhà, bên bếp lửa hoặc trong buồng riêng, do mẹ chồng, bà đỡ trong bản hay chính người nhà giúp; ở một số làng xưa, sản phụ còn sinh trong chòi tạm dựng ngoài nhà. Quanh việc sinh nở có nhiều kiêng kỵ, nhiều nghi lễ nhỏ, phản ánh cả niềm tin lẫn kinh nghiệm sống ở vùng núi.
Ngày nay, phần lớn phụ nữ vùng cao đã sinh ở trạm y tế, có cô đỡ thôn bản hỗ trợ ở những nơi xa, nhưng nhiều tục cũ vẫn được giữ theo cách mới. Bài viết nhìn lại tục sinh nở xưa một cách tôn trọng, nói rõ những rủi ro mà cộng đồng đã tự nhận ra, và những cách người dân đang kết hợp giữa tục và y tế. Tục mỗi dân tộc, mỗi bản một khác, nên các mô tả dưới đây là nét chung được ghi chép, không áp cho mọi nơi.
Sinh nở trong nếp sống bản làng ngày trước
Ở vùng núi xưa, trạm y tế ở xa, đường đi khó, nên sinh con ở nhà là chuyện bình thường. Người giúp sản phụ thường là mẹ chồng, mẹ đẻ hay một người phụ nữ có kinh nghiệm trong bản, người mà cộng đồng gọi là bà đỡ. Ở nhiều nơi, người chồng cũng ở bên, đun nước, giữ lửa, chuẩn bị đồ cần thiết. Kinh nghiệm đỡ đẻ được truyền miệng từ người này sang người khác qua nhiều thế hệ.
Nhiều tài liệu dân tộc học mô tả rằng ở một số cộng đồng, sản phụ sinh ở tư thế ngồi hoặc quỳ, bám vào một sợi dây buộc trên xà nhà hay vào cột nhà, với người nhà đỡ phía sau. Tư thế ấy được truyền lại như một kinh nghiệm, và ngày nay một số cơ sở sản khoa trên thế giới cũng tôn trọng lựa chọn tư thế sinh của sản phụ khi điều kiện an toàn cho phép.
Quanh việc sinh nở luôn có những nghi lễ nhỏ: báo với tổ tiên, kiêng người lạ, chuẩn bị chỗ chôn nhau, lễ đặt tên trong những ngày đầu. Những nghi lễ ấy giúp gia đình và cộng đồng vượt qua một thời khắc nhiều lo âu, và là dịp để họ hàng cùng chia việc với gia đình nhỏ.
Sinh ở đâu: buồng trong, bên bếp lửa hay chòi riêng
Bên bếp lửa trong nhà. Ở nhiều dân tộc vùng núi phía Bắc, bếp lửa là trung tâm của ngôi nhà, và sản phụ sinh, ở cữ gần bếp để giữ ấm trong những đêm lạnh. Ngọn lửa còn mang ý nghĩa che chở trong tín ngưỡng của nhiều cộng đồng.
Trong buồng riêng của nhà sàn. Ở các dân tộc sống nhà sàn như Tày, Thái, Mường, sản phụ thường sinh và ở cữ trong buồng hay góc nhà dành riêng, có vách ngăn, ít người qua lại.
Chòi tạm ngoài nhà. Theo một số ghi chép, ở vài làng Tây Nguyên và vùng núi xưa, sản phụ sinh trong một chòi nhỏ dựng tạm ngoài nhà chung hay ở rìa làng, vì quan niệm việc sinh nở cần tách khỏi không gian chung của dòng họ. Tục này đã thưa dần từ lâu và ngày nay rất hiếm.
Ở trên nương rẫy. Cũng có những trường hợp sản phụ chuyển dạ khi đang làm nương xa nhà và sinh ngay tại chòi canh rẫy. Đây không phải tục mà là hoàn cảnh; nó cho thấy nỗi vất vả của phụ nữ vùng cao khi phải làm việc nặng tới tận ngày sinh.
Kiêng kỵ quanh sản phụ và đứa trẻ
Hầu như dân tộc nào cũng có dấu hiệu báo nhà đang có người sinh, thường là một cành lá, một tấm phên hay một vật treo ở cửa, cầu thang hay cổng. Người lạ thấy thì không vào. Trong những ngày đầu, chỉ người nhà mới được gần mẹ con. Nhiều cộng đồng quan niệm người lạ mang theo những điều không lành; nhìn từ góc vệ sinh, việc hạn chế người ngoài cũng giúp trẻ sơ sinh tránh bệnh lây.
Về ăn uống, mỗi cộng đồng có món riêng cho người mẹ sau sinh, thường là thịt gà, cháo, các loại lá rừng nấu theo bài của gia đình. Cùng với đó là danh sách những thứ kiêng, khác nhau rất nhiều giữa các nơi. Có kiêng hợp lý, như kiêng rượu mạnh; cũng có kiêng khiến người mẹ ăn quá ít, thiếu chất trong thời gian cần sức nhất.
Về sinh hoạt, người mẹ kiêng ra suối, kiêng lên nương, kiêng làm việc nặng trong một thời gian, phổ biến là khoảng một tháng. Người chồng và họ hàng gánh việc thay. Phần này của tục rất đáng giữ, vì nó cho người mẹ thời gian hồi phục mà nhiều phụ nữ ở vùng khó khăn, nếu không có tục, sẽ không có.
Những rủi ro mà cộng đồng đã tự nhận ra
Nói về rủi ro của tục cũ không phải để chê bai, vì chính người dân vùng cao, nhất là những người mẹ, là người đã trải qua và nhận ra chúng trước tiên. Các rủi ro dưới đây là những điều cán bộ y tế và các cộng đồng thường nhắc tới.
- Sinh ở nhà không có người được đào tạo, khi có biến chứng như băng huyết, ngôi thai bất thường hay chuyển dạ kéo dài, người nhà khó xử lý và đường tới cơ sở y tế lại xa.
- Cắt rốn bằng dụng cụ không sạch, đắp lá hay tro lên rốn, từng là nguyên nhân của uốn ván sơ sinh trước khi có tiêm phòng rộng rãi.
- Sản phụ ở cữ trong nhà kín gần bếp củi lâu ngày, cả mẹ và trẻ hít nhiều khói.
- Kiêng ăn quá mức làm người mẹ thiếu chất, ít sữa, mệt mỏi kéo dài.
- Trẻ sơ sinh ốm nhưng gia đình chờ làm lễ trước khi đưa đi khám, có khi đã muộn.
- Không khám thai trong suốt thời gian mang thai, không phát hiện sớm được những nguy cơ có thể phòng tránh.
Những rủi ro này không riêng gì vùng cao: làng quê người Kinh xưa cũng từng như vậy. Khác biệt chủ yếu nằm ở khoảng cách tới cơ sở y tế và điều kiện kinh tế, không nằm ở dân tộc.
Cô đỡ thôn bản và mạng lưới y tế cơ sở
Để thu hẹp khoảng cách ấy, Việt Nam đã triển khai mô hình cô đỡ thôn bản ở nhiều tỉnh miền núi. Cô đỡ thôn bản thường là phụ nữ người dân tộc tại chỗ, biết tiếng và phong tục của bản, được đào tạo về chăm sóc thai nghén, đỡ đẻ thường, chăm sóc sau sinh và nhận biết dấu hiệu nguy hiểm để chuyển tuyến. Vì là người trong bản, các cô dễ được sản phụ và gia đình tin hơn người lạ.
Vai trò của cô đỡ thôn bản không phải thay bệnh viện, mà là cây cầu: đi thăm phụ nữ mang thai, khuyên họ đi khám thai, chuẩn bị cho việc sinh ở trạm, đỡ đẻ sạch khi sản phụ không kịp đi, và đưa mẹ con tới cơ sở y tế khi có dấu hiệu bất thường. Các cô cũng hiểu phong tục, nên biết cách nói chuyện để gia đình giữ được tục mà không đặt mẹ con vào nguy hiểm.
Bên cạnh đó, nhiều trạm y tế xã vùng cao đã điều chỉnh để gần với phong tục hơn: cho người nhà ở cùng sản phụ, cho phép gia đình mang nhau thai về chôn theo tục, cho sản phụ chọn tư thế dễ chịu khi chuyển dạ nếu an toàn. Những điều chỉnh nhỏ ấy giúp phụ nữ yên tâm đến trạm hơn.
Giữ tục, đổi cách: những gì nhiều cộng đồng đã chọn
Bảng dưới gom những cách kết hợp giữa tục cũ và chăm sóc y tế mà nhiều cộng đồng vùng cao đang làm. Mỗi gia đình chọn theo hoàn cảnh của mình.
| Tục cũ | Cách nhiều nơi điều chỉnh | Điều được giữ lại |
|---|---|---|
| Sinh ở nhà, người nhà đỡ | Sinh ở trạm y tế, người nhà đi cùng và ở bên | Người thân vẫn có mặt trong giờ phút quan trọng |
| Chôn nhau trong nhà hay dưới sàn | Xin mang nhau về chôn sau khi sinh ở trạm | Mối dây giữa đứa trẻ và ngôi nhà |
| Ở cữ sát bếp lửa trong nhà kín | Giữ ấm bằng chăn áo, nhà có lối thông khói | Ấm áp và nghỉ ngơi cho mẹ |
| Kiêng người lạ vào nhà | Vẫn giữ, kèm rửa tay cho người thăm | Mẹ con được yên, ít lây bệnh |
| Lễ đặt tên ngày đầu | Làm lễ khi mẹ con về nhà, song song với khai sinh | Đứa trẻ được dòng họ đón nhận |
| Chờ làm lễ rồi mới đi khám khi trẻ ốm | Đưa trẻ đi khám trước, làm lễ sau nếu gia đình muốn | Niềm tin của gia đình mà không chậm chữa |
Điểm chung của các cách điều chỉnh là không bắt cộng đồng phải chọn giữa tục và an toàn. Khi tục được tôn trọng, người dân sẵn lòng thay đổi phần có rủi ro hơn rất nhiều so với khi bị chê bai.
Người làm việc ở vùng dân tộc nên lưu ý gì
Giáo viên, cán bộ y tế, cán bộ xã hay người làm dự án ở vùng dân tộc thường phải nói chuyện với các gia đình về sinh nở. Vài lưu ý dưới đây được nhiều người làm lâu năm chia sẻ.
- Hỏi trước, nghe trước: tìm hiểu tục của chính bản ấy từ người già, cô đỡ thôn bản, trưởng bản, thay vì mang định kiến từ nơi khác tới.
- Nói bằng tiếng của cộng đồng hoặc qua người phiên dịch tin cậy, nhất là với phụ nữ lớn tuổi.
- Tách điều cần đổi ra khỏi điều không cần đổi: chỉ tập trung vào những việc có rủi ro thật cho mẹ con, còn lại tôn trọng lựa chọn của gia đình.
- Mời người có uy tín trong bản, như người già, thầy cúng, cùng tham gia; khi họ đồng tình, cả bản thay đổi nhanh hơn.
- Không chụp ảnh, quay phim sản phụ và trẻ sơ sinh để làm tư liệu khi chưa được sự đồng ý rõ ràng của gia đình.
Tục sinh nở của các dân tộc là một phần di sản sống, gắn với niềm tin, tình thân và kinh nghiệm của nhiều thế hệ. Nhìn nó một cách tôn trọng, người ngoài sẽ thấy rằng chính các cộng đồng đang tự tìm cách giữ phần đẹp và bỏ phần rủi ro.
Câu hỏi thường gặp
Ngày xưa phụ nữ dân tộc thiểu số sinh con ở đâu?
Phần lớn sinh tại nhà, bên bếp lửa hoặc trong buồng riêng, do mẹ chồng, mẹ đẻ hay bà đỡ trong bản giúp. Theo một số ghi chép, ở vài làng xưa sản phụ sinh trong chòi tạm ngoài nhà. Ngày nay phần lớn đã sinh ở trạm y tế.
Cô đỡ thôn bản là ai?
Thường là phụ nữ người dân tộc tại chỗ, được đào tạo về chăm sóc thai nghén, đỡ đẻ thường, chăm sóc sau sinh và nhận biết dấu hiệu nguy hiểm. Các cô làm cầu nối giữa gia đình và cơ sở y tế ở những vùng xa trạm.
Sinh ở trạm y tế có làm lễ theo tục được không?
Được. Nhiều gia đình làm lễ đặt tên, lễ báo tổ tiên khi mẹ con về nhà; một số trạm cho người nhà ở cùng sản phụ và cho mang nhau thai về chôn. Nên hỏi trước nơi sinh về những việc gia đình muốn làm.
Ở cữ bên bếp lửa có hại không?
Giữ ấm là cần, nhưng ở lâu trong nhà kín gần bếp củi, mẹ và trẻ hít nhiều khói, có hại cho đường hô hấp. Nên giữ ấm bằng chăn áo, để nhà có lối thông khói, không để trẻ nằm sát bếp.
Làm sao nói chuyện về rủi ro mà không xúc phạm phong tục?
Bắt đầu bằng việc hỏi và lắng nghe về tục của gia đình, ghi nhận phần tốt, rồi chỉ nói về những việc có rủi ro cụ thể cho mẹ con. Mời người có uy tín trong bản cùng nói thường hiệu quả hơn một mình cán bộ.