Vạn chài là cách người Việt xưa gọi cộng đồng những người sống bằng nghề đánh bắt trên sông, trên biển, cùng nhau lập ra một tổ chức có lệ riêng: chia phần sản phẩm, giúp nhau khi gặp nạn, lo việc thờ cúng và việc chung của nghề. Ở miền Trung, "vạn" còn là tên gọi của tổ chức nghề nghiệp trong làng biển, thường gắn với một ngôi lăng hoặc đình của vạn.
Bài này kể về nếp sống cộng đồng của người làm nghề sông nước: vạn được tổ chức thế nào, những lệ thường gặp về chia phần, cứu nạn, tương trợ, và những gì đang được giữ ở các làng biển hôm nay. Phần tín ngưỡng thờ cá Ông và các lễ hội cầu ngư chỉ được nhắc khi cần giải thích, không đi vào chi tiết nghi lễ.
Vạn là gì: hai cách hiểu
Chữ "vạn" trong vạn chài có hai cách dùng. Ở Bắc Bộ, "dân vạn chài" thường chỉ những gia đình sống hẳn trên thuyền, đi theo luồng cá trên sông và ven biển, không có nhà cửa ruộng vườn trên bờ. Họ hợp thành những nhóm thuyền thường neo đậu cùng một bến, có người đứng đầu, có lệ riêng, giống một làng trên mặt nước.
Ở miền Trung, "vạn" là tổ chức của ngư dân trong một làng biển, có khi gắn với từng loại nghề như vạn lưới, vạn câu. Vạn có người đứng đầu do người trong vạn tín nhiệm, có lăng hoặc miếu riêng, có quỹ chung và lệ chung. Một làng có thể vừa có tổ chức làng theo kiểu hành chính, vừa có vạn lo việc nghề.
Cả hai cách hiểu đều xoay quanh một điểm: người làm nghề sông nước phải dựa vào nhau nhiều hơn người làm ruộng. Biển động, sông lũ, cá lúc được lúc không; một mình không ai đi biển được. Vì thế cộng đồng nghề nghiệp ở đây gắn bó, có lệ chặt và có tinh thần tương trợ rất rõ.
Dân vạn chài Bắc Bộ: làng trên mặt nước
Xưa ở đồng bằng Bắc Bộ, người vạn chài sống trên những chiếc thuyền nhỏ có mui, cả nhà ăn ngủ trên thuyền, con cái sinh ra và lớn lên trên sông. Họ thường không có ruộng, ít được làng trên bờ nhận làm dân chính cư, nên ở thế yếu trong xã hội làng xã cũ. Nhiều nơi gọi họ là dân thuyền, dân vạn, với một chút xem thường mà ngày nay cần được nhìn nhận lại.
Để tồn tại, các gia đình vạn chài tự lập thành nhóm, chọn người đứng đầu, đặt lệ riêng: thuyền nào neo ở đâu, khi có người mất thì chôn ở bãi nào, trẻ con học chữ ở đâu, ai giúp ai khi thuyền hỏng. Đời sống khó khăn nhưng tình nghĩa giữa các thuyền rất đậm.
Từ nửa sau thế kỷ 20, nhiều nhóm vạn chài được vận động lên bờ định cư, có đất ở, con cái đi học như mọi người. Ở vịnh Hạ Long thuộc Quảng Ninh, các làng chài nổi từng là nét văn hoá đặc biệt; từ khoảng giữa thập niên 2010, phần lớn hộ dân ở đây đã được bố trí lên bờ, một số làng chài được giữ lại một phần cho hoạt động văn hoá và du lịch.
Lệ vạn ở làng biển miền Trung
Ở các làng biển miền Trung, vạn thường có người đứng đầu được ngư dân tín nhiệm, mỗi nơi gọi một khác, cùng một nhóm người giúp việc lo sổ sách, quỹ chung, lễ của vạn. Người đứng đầu vạn thường là ngư dân lâu năm, giỏi nghề, hiểu biển và có uy tín, được người trong vạn bàn chọn chứ không phải chức vụ do bên ngoài cử.
Vạn có quỹ chung do các thuyền góp theo lệ, có khi tính theo mỗi chuyến biển. Quỹ dùng để sửa lăng, miếu của vạn, tổ chức lễ hằng năm, giúp gia đình có người gặp nạn. Các khoản thu chi thường được công bố trong những buổi họp vạn để mọi người cùng biết, vì ai cũng góp nên ai cũng muốn rõ ràng.
Ngôi lăng hay miếu của vạn là nơi ngư dân tụ họp vào các dịp lễ, nơi bàn những việc chung của nghề. Phần tín ngưỡng gắn với lăng, như việc thờ cá Ông, là một mảng riêng có nhiều sách viết; ở đây chỉ cần hiểu rằng lăng vạn vừa là nơi thờ tự, vừa là nhà chung của cộng đồng nghề biển, giống như ngôi đình đối với làng làm ruộng.
Những lệ thường gặp ở làng biển, vạn chài
Mỗi vạn, mỗi làng biển có lệ riêng. Bảng dưới gom những nhóm lệ được nhắc đến nhiều trong các ghi chép về làng biển miền Trung và cư dân sông nước Bắc Bộ.
| Nhóm lệ | Nội dung thường gặp | Ý nghĩa thực tế |
|---|---|---|
| Chia phần sản phẩm | Chia theo phần của thuyền, của lưới và của người đi biển; người già, người ốm của vạn có khi được một phần nhỏ | Ai góp gì được hưởng tương xứng, người yếu thế vẫn có phần |
| Cứu nạn | Gặp thuyền bị nạn thì phải dừng lại cứu, kể cả thuyền của vạn khác | Trên biển ai cũng có lúc gặp nạn; cứu người là cứu chính mình |
| Ngư trường | Thoả thuận khu vực đặt lưới, thời gian khai thác, không giành chỗ của nhau | Tránh tranh chấp, giữ hoà khí giữa các thuyền |
| Tương trợ | Góp tiền, góp công giúp gia đình có người mất trên biển; nuôi trẻ mồ côi của vạn | Gia đình người gặp nạn không bị bỏ lại một mình |
| Việc chung của vạn | Góp quỹ sửa lăng, tổ chức lễ của vạn, đón tiếp khách | Giữ sự gắn kết và bản sắc nghề |
Ví dụ giả định về chia phần: một chuyến biển bán được một khoản, trước hết trừ chi phí dầu, đá, lương thực; phần còn lại chia theo tỉ lệ đã thoả thuận giữa chủ thuyền, chủ ngư cụ và những người đi biển. Tỉ lệ cụ thể mỗi nơi một khác, và ngày nay thường được ghi trong thoả thuận giữa các bên.
Tục cứu nạn: lệ quan trọng nhất của người đi biển
Ở mọi làng biển, lệ được nhắc nhiều nhất là cứu người, cứu thuyền gặp nạn. Theo nếp xưa, thuyền nào thấy thuyền khác bị nạn mà bỏ đi là điều cả vạn lên án. Ngược lại, người đã cứu được người được cả làng kính trọng. Lệ này không cần viết ra, vì ai làm nghề biển cũng hiểu mình có thể là người cần được cứu vào chuyến sau.
Khi có người mất trên biển, cả vạn cùng lo: đi tìm, giúp gia đình tổ chức tang lễ, góp tiền góp gạo cho vợ con người mất. Ở nhiều làng biển miền Trung, tục chôn cất, thờ cúng những người không rõ danh tính trôi dạt vào bờ cũng là một nét tình nghĩa của cư dân biển, dù phần nghi lễ mỗi nơi một khác. Người làng biển coi việc lo cho người không quen biết như lo cho người nhà, vì họ biết người thân của mình cũng có thể gặp cảnh ấy ở một bờ biển xa.
Ngày nay, việc cứu nạn trên biển có lực lượng chuyên trách và hệ thống thông tin liên lạc. Nhưng tinh thần cứu nạn của ngư dân vẫn rất quan trọng, vì nhiều khi thuyền gần nhất chính là thuyền của bạn nghề. Các tổ đoàn kết trên biển được lập ra chính là nối dài nếp tương trợ của vạn xưa.
Nếp sống chung trên bến, trên làng biển
Dậy sớm, theo con nước. Đời sống làng biển chạy theo con nước, mùa gió. Cả làng có thể vắng đàn ông nhiều ngày, phụ nữ ở nhà lo chợ cá, phơi cá, làm nước mắm, giữ con. Vai trò của phụ nữ làng biển vì thế rất lớn, dù ít được ghi trong lệ làng xưa.
Giữ bến chung. Bãi đậu thuyền, bãi phơi lưới là tài sản chung. Lệ làng biển thường có điều về chỗ đậu thuyền, giữ vệ sinh bãi, không để thuyền hỏng chắn lối. Ngày nay nhiều làng biển đưa thêm việc thu gom rác trên bãi, không xả dầu thải, bao bì xuống biển vào quy ước của thôn.
Kiêng nói điều gở. Như nhiều nghề nguy hiểm, ngư dân xưa có những điều kiêng trên thuyền, như tránh những từ gợi việc chìm, lật. Đây là cách giữ tâm lý vững vàng trước chuyến đi xa, nhiều nhà nay vẫn giữ như một thói quen.
Lễ chung của vạn. Mỗi năm vạn tổ chức lễ cầu cho mùa biển yên, thường có hát bả trạo, đua thuyền ở một số vùng miền Trung. Đây là dịp cả làng biển gặp nhau, các vạn đi lại với nhau.
Đón người đi biển về. Khi thuyền về bến, người trên bờ ra giúp kéo thuyền, chuyển cá, không phân biệt nhà ai. Cảnh cả bãi biển rộn ràng lúc sáng sớm là hình ảnh quen thuộc của nếp sống chung ở làng biển.
Làng biển hôm nay: giữ nếp cũ trong cách làm mới
Nghề biển hôm nay đã khác xa. Tàu lớn hơn, đi xa hơn, có máy định vị, có phương tiện liên lạc. Nhiều người trẻ ở làng biển chọn nghề khác hoặc đi làm xa. Tổ chức vạn theo nghĩa cũ không còn ở nhiều nơi, nhưng lăng, miếu của vạn vẫn được giữ, và các lễ của vạn vẫn được tổ chức hằng năm.
Một số mô hình mới mang dáng dấp của vạn xưa. Tổ đoàn kết trên biển gồm nhiều tàu cùng đi khai thác, giữ liên lạc và hỗ trợ nhau khi gặp sự cố. Ở một số địa phương ven biển, cộng đồng ngư dân được giao cùng quản lý nguồn lợi thuỷ sản vùng ven bờ: tự đặt quy ước về mùa khai thác, ngư cụ được dùng, khu vực cần bảo vệ, tương tự cách vạn xưa thoả thuận ngư trường.
Những quy ước này phải phù hợp với pháp luật về thuỷ sản hiện hành. Người làm nghề nên hỏi chính quyền xã, phường ven biển và cơ quan quản lý thuỷ sản ở địa phương để biết những quy định đang áp dụng. Phần đẹp của lệ vạn, như cứu nạn, tương trợ, giữ ngư trường, hoàn toàn có thể sống tiếp trong những quy ước mới ấy.
Câu hỏi thường gặp
Vạn chài và làng chài có giống nhau không?
Gần nhau nhưng không hẳn. Làng chài là làng có đông người làm nghề đánh bắt. Vạn là tổ chức nghề nghiệp của ngư dân, có người đứng đầu, có lệ, có quỹ chung; ở Bắc Bộ, dân vạn chài còn chỉ những gia đình sống hẳn trên thuyền.
Vì sao dân vạn chài xưa ít được làng trên bờ nhận?
Vì họ không có ruộng đất, di chuyển theo con nước, không ở cố định trong một làng, nên khó được nhận làm dân chính cư theo lệ làng xưa. Đây là một trong những bất công của xã hội làng xã cũ.
Lệ cứu nạn của ngư dân có còn không?
Còn, và vẫn được coi là lệ quan trọng nhất của người đi biển. Ngày nay bên cạnh lực lượng cứu nạn chuyên trách, các tàu cá cùng tổ đoàn kết vẫn hỗ trợ nhau khi một tàu gặp sự cố trên biển.
Tổ đoàn kết trên biển là gì?
Đó là nhóm các tàu cá cùng đi khai thác, giữ liên lạc và hỗ trợ nhau khi gặp nạn, hỏng máy hay thời tiết xấu. Có thể coi đây là cách tổ chức mới nối dài nếp tương trợ của vạn chài xưa.
Muốn tìm hiểu lệ của một vạn ở miền Trung thì hỏi ai?
Bạn có thể hỏi các ngư dân cao tuổi, người trông coi lăng, miếu của vạn, ban quản lý di tích ở địa phương. Mỗi vạn có lệ riêng nên nên ghi rõ tên làng, tên vạn khi ghi chép.