TapTuc.comTập Tục
Lệ làng và nếp sống cộng đồng

Hương ước là gì: lệ làng thành văn của làng Việt xưa và những điều khoản thường gặp

Hương ước là bản lệ làng được viết thành văn: ai soạn, ghi những gì về ruộng đất, đê điều, cưới tang, ngôi thứ, thưởng phạt, và vì sao làng Việt cần nó.

Low angle view of an old communal house roof in a Red River Delta village at early morning, elders seen from behind sitting on mats in the open hall, soft mist

Hương ước là bản ghi thành văn những lệ làng mà cả làng cùng thoả thuận và cam kết giữ, từ việc chia ruộng công, giữ đê, canh phòng, đến việc cưới, việc tang, ngôi thứ ở đình và cách thưởng phạt người làm sai. Ở nhiều nơi nó còn được gọi là khoán ước, hương lệ, tục lệ hay cựu khoán. Nói gọn, nếu lệ làng là những điều "làng vẫn làm như thế", thì hương ước là lúc làng ngồi lại, chép những điều ấy ra giấy và đặt tên người chịu trách nhiệm.

Bài này giải thích hương ước ở mức phong tục: ai soạn, soạn khi nào, thường có những phần nào, làng giữ nó ra sao, và vì sao các nhà nghiên cứu coi những tập hương ước còn lưu lại là nguồn tư liệu quý để hiểu đời sống làng Việt. Phần hương ước, quy ước thôn bản ngày nay có cách soạn và giá trị pháp lý khác, được viết ở một bài riêng.

Lệ làng và hương ước: một bên là nếp, một bên là văn bản

Trước khi có hương ước thành văn, làng Việt đã sống bằng lệ: những thói quen được cả cộng đồng công nhận, truyền miệng qua nhiều đời. Ai đến tuổi phải góp việc làng, nhà nào cưới vợ phải báo làng, đám tang thì phe giáp nào khiêng đòn, ruộng công chia mấy năm một lần. Những điều này không cần chép ra vì người trong làng ai cũng biết, và ai làm sai thì cả làng đều thấy.

Hương ước ra đời khi làng cần một bản ghi chắc chắn hơn trí nhớ. Có thể vì dân số đông lên, người ngụ cư đến nhiều, tranh chấp ruộng đất phức tạp, hay vì chính quyền phía trên muốn biết làng đang sống theo lệ gì. Bản hương ước thường do các bậc chức sắc, người có học trong làng soạn bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm, rồi đọc trước dân làng ở đình để mọi người cùng nghe và cùng nhận.

Vì vậy không phải mọi lệ làng đều có trong hương ước, và không phải điều gì chép trong hương ước cũng được giữ đúng từng chữ. Người đọc hương ước cũ nên coi nó là phần lệ làng mà làng muốn ghi lại vào một thời điểm, chứ không phải toàn bộ đời sống của làng.

Những phần thường gặp trong một bản hương ước cũ

Mỗi làng soạn theo nhu cầu riêng, nên bố cục không giống nhau. Bảng dưới gom những nhóm điều khoản hay xuất hiện trong các bản hương ước làng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ còn lưu lại.

Nhóm điều khoảnThường ghi gìVí dụ cách ghi (diễn ý)
Ruộng đất, tài sản chungRuộng công chia cho ai, bao lâu chia lại; ao, bãi, đầm của làng; phần ruộng để lo việc tế lễ, học hànhRuộng công chia theo suất đinh, mấy năm chia lại một lần
Đê điều, thuỷ lợi, canh phòngGóp công đắp đê, nạo mương; lập tuần đinh canh gác; lệ phòng cháy, phòng trộmMỗi suất đinh góp số ngày công nhất định khi làng đắp đê
Ngôi thứ và việc đìnhAi ngồi chiếu nào, ai được chia phần biếu gì; lệ khao vọng khi đỗ đạt, lên lãoNgười lên lão nộp lễ cho làng thì được ngồi chiếu lão
Cưới hỏi, tang maNộp cheo khi lấy vợ; lệ báo làng; phe giáp nào giúp đám tang; mức đóng gópCon gái lấy chồng làng khác thì nhà trai nộp cheo cho làng gái
Khuyến học, khuyến nôngRuộng học điền; lệ mừng người đỗ; lệ thưởng người có công với làngNgười đỗ đạt được làng ra đón, ghi tên vào văn chỉ
Thưởng phạtPhạt tiền, phạt lễ, phạt không cho ngồi đình; thưởng người bắt được trộm, cứu ngườiAi để trâu bò phá lúa phải đền và nộp phạt

Cột ví dụ chỉ diễn lại ý chung của nhiều bản, không trích nguyên văn của một làng cụ thể. Muốn biết làng mình xưa có những điều gì, cách tốt nhất là tìm bản hương ước của chính làng ấy.

Ai soạn, ai giữ và hương ước được dùng thế nào

Ở làng Việt cổ truyền, việc làng do một nhóm người có vị thế lo liệu: các chức sắc, người đỗ đạt, người cao tuổi có uy tín, cùng bộ máy lý dịch phụ trách giấy tờ với quan trên. Khi soạn hoặc sửa hương ước, nhóm này họp bàn ở đình, cử người chấp bút, rồi mời dân làng nghe đọc. Nhiều bản cuối có ghi tên những người dự bàn và ngày lập.

Bản hương ước thường được cất ở đình hoặc trong nhà người giữ sổ sách của làng. Khi có tranh chấp, chẳng hạn hai nhà cãi nhau vì ruộng hay vì phần biếu, làng đem bản ước ra đối chiếu. Người vi phạm bị làng xử theo mức đã ghi: nhẹ thì nộp phạt, nặng thì bị làng tạm không cho tham dự việc đình. Ở xã hội làng xưa, bị gạt ra khỏi sinh hoạt chung là điều người ta rất ngại.

Cũng cần nói rõ: hương ước phản ánh cách nhìn của những người soạn ra nó. Nhiều điều khoản ưu tiên người có chức, có học, phân biệt dân chính cư với người ngụ cư, và phụ nữ gần như không có tiếng nói trong việc làng. Đọc hương ước cũ là để hiểu một xã hội đã qua, cả phần hay lẫn phần bất công của nó.

Hương ước qua các thời kỳ

Thời quân chủ. Các triều đại có lúc khuyến khích, có lúc kiểm soát việc làng tự đặt lệ. Một số giáo điều do triều đình ban ra, như các điều giáo hoá thời Lê, được nhiều làng lấy làm khung khi soạn ước của mình. Hương ước thời này đa phần viết bằng chữ Hán, có bản xen chữ Nôm.

Thời thuộc địa. Đầu thập niên 1920, chính quyền thuộc địa tiến hành cải lương hương chính ở Bắc Kỳ, yêu cầu nhiều làng soạn lại hương ước theo mẫu thống nhất. Các bản này thường gọi là hương ước cải lương, có phần in sẵn, nhiều bản viết bằng chữ quốc ngữ, và hiện là nhóm hương ước còn lưu được nhiều nhất trong các thư viện, kho lưu trữ.

Sau năm 1945. Bộ máy làng xã cũ được thay bằng chính quyền mới, hương ước theo kiểu cũ thôi được dùng. Nhiều lệ làng vẫn sống trong nếp nghĩ, nhưng không còn là văn bản có hiệu lực.

Từ cuối thập niên 1990. Nhà nước khuyến khích các thôn, làng, bản, ấp soạn hương ước, quy ước mới, gắn với phong trào xây dựng nếp sống văn hoá ở khu dân cư. Bản mới phải phù hợp pháp luật và được cơ quan có thẩm quyền công nhận.

Những lệ làng tốt mà hương ước cũ đã ghi

Giữ đê và giữ nước. Ở vùng châu thổ, đê vỡ là cả làng mất mùa. Nhiều bản ước quy định rõ mỗi nhà góp bao nhiêu công khi đắp đê, ai canh đê mùa lũ, ai đào trộm chân đê thì bị phạt nặng. Lệ giữ giếng, giữ ao chung cũng hay gặp: cấm giặt giũ, tắm trâu ở giếng ăn.

Giữ cây cối, hoa màu. Có làng cấm chặt cây quanh đình, chùa, quanh bờ đê; cấm thả trâu bò, gà vịt phá lúa của nhà khác. Người vi phạm phải đền cho chủ ruộng và nộp phạt cho làng.

Giúp nhau lúc khó. Lệ góp gạo, góp công cho nhà có tang, lệ hỗ trợ người già cô đơn, trẻ mồ côi bằng phần hoa lợi ruộng công. Đây là phần tình làng nghĩa xóm được chép thành nghĩa vụ.

Khuyến học. Nhiều làng để riêng một phần ruộng làm học điền, lấy hoa lợi nuôi thầy đồ hoặc thưởng người đỗ đạt. Tên người đỗ được khắc, ghi ở văn chỉ của làng để con cháu noi theo.

Vì sao hương ước cũ là tư liệu quý

Lịch sử chính thống thường ghi chuyện triều đình, chiến tranh, danh nhân. Đời sống của một làng bình thường, như ruộng chia thế nào, đám cưới đóng góp bao nhiêu, người nghèo được giúp ra sao, thì ít được chép. Hương ước lấp vào khoảng trống đó. Đọc nhiều bản của nhiều làng, các nhà nghiên cứu thấy được làng tự quản ra sao, quan hệ giữa làng với nhà nước, sự thay đổi của lệ cưới, lệ tang qua thời gian.

Hương ước còn cho thấy những vấn đề người xưa đã phải đối mặt và cách họ giải quyết: chống trộm cắp, giữ gìn đê, bảo vệ cây cối ở đình, chùa, cấm thả trâu bò phá hoa màu, hạn chế ăn uống linh đình khi khao vọng. Có những lệ nghe rất gần với đời sống hôm nay, như lệ giữ vệ sinh giếng nước chung hay phạt người đổ rác ra đường làng.

Nhiều bản hương ước Hán Nôm và hương ước cải lương hiện được lưu tại các viện nghiên cứu, thư viện lớn, và một số đã được dịch, xuất bản thành sách. Một số làng còn giữ bản gốc ở đình hoặc trong gia đình người từng giữ sổ sách. Nếu bạn muốn tìm hiểu làng quê mình, hỏi các cụ cao tuổi và ban quản lý di tích đình làng là bước đầu dễ làm nhất.

Đọc một bản hương ước cũ: vài lưu ý cho người mới

Đọc hương ước, dù bản gốc hay bản dịch, sẽ dễ hơn nếu bạn để ý mấy điều sau:

  • Xem năm lập và người lập. Bản soạn thời quân chủ và bản cải lương thời thuộc địa khác nhau nhiều về giọng điệu và mục đích.
  • Đừng coi một làng là cả vùng. Hai làng sát nhau có thể có lệ cheo, lệ khao khác hẳn; muốn nói về một vùng cần đọc nhiều bản.
  • Phân biệt điều ghi và điều làm. Có điều chép rất nghiêm nhưng thực tế ít khi áp dụng, có điều không chép mà ai cũng làm.
  • Đọc kèm bối cảnh. Tiền phạt, lễ nộp tính bằng những đơn vị xưa; quy đổi sang tiền ngày nay rất dễ sai, nên chỉ nên hiểu là nặng hay nhẹ so với thời đó.
  • Tôn trọng làng có bản ước. Nếu mượn bản gốc của làng hay của một gia đình, hãy hỏi trước khi chụp ảnh và đăng lên mạng.
  • Ghi nguồn khi trích. Nhắc rõ tên làng, năm lập, nơi lưu, để người sau còn kiểm lại được.

Những lưu ý này giúp bạn không vội vàng kết luận "người xưa khắt khe" hay "ngày xưa tốt hơn". Hương ước là tiếng nói của một nhóm người trong một thời điểm, và giá trị của nó nằm ở chỗ cho ta thấy họ đã cố gắng tổ chức đời sống chung như thế nào.

Câu hỏi thường gặp

Hương ước và lệ làng có phải là một không?

Gần nhau nhưng không trùng. Lệ làng là toàn bộ những nếp làng quen làm, phần lớn truyền miệng. Hương ước là phần lệ làng được chép thành văn bản tại một thời điểm, có người soạn, có ngày lập và thường được đọc trước dân làng.

Làng nào cũng có hương ước không?

Không chắc làng nào cũng có, và nhiều bản đã thất lạc qua chiến tranh, thiên tai. Hương ước phổ biến nhất ở các làng đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ; ở Nam Bộ, làng hình thành muộn hơn và tổ chức có nhiều điểm khác.

Hương ước xưa có giá trị pháp lý không?

Trong xã hội cũ, hương ước có hiệu lực trong phạm vi làng và được quan trên chấp nhận ở mức độ khác nhau tuỳ thời. Ngày nay các bản cũ là tư liệu lịch sử, không còn hiệu lực; hương ước, quy ước mới phải phù hợp pháp luật hiện hành.

Muốn đọc hương ước của làng mình thì tìm ở đâu?

Bạn có thể hỏi các cụ cao tuổi, ban quản lý đình làng, người trong các dòng họ lâu đời, rồi tra danh mục ở các thư viện, viện nghiên cứu Hán Nôm. Một số bản đã được dịch và in trong các sách chuyên khảo về làng xã.

Vì sao hương ước hay nói về ngôi thứ và khao vọng?

Vì ngôi thứ ở đình là cách làng xác định vị thế của từng người, và khao vọng là con đường để có ngôi thứ. Đây là chuyện người xưa rất coi trọng nên làng phải chép rõ để tránh tranh chấp.

Hương ước có quy định gì về phụ nữ không?

Phần lớn hương ước cũ do nam giới soạn và nói về nam giới, vì việc làng xưa chủ yếu do đàn ông đảm nhận. Phụ nữ xuất hiện chủ yếu trong các điều về cưới hỏi, nộp cheo và giữ nếp gia đình. Đây là một giới hạn cần nhìn thẳng khi đọc.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183