TapTuc.comTập Tục
Lệ làng và nếp sống cộng đồng

Tục kết chạ là gì: khi hai làng kết nghĩa anh em và giữ lễ giao hiếu qua nhiều đời

Kết chạ là tục hai hay nhiều làng kết nghĩa anh em, giúp nhau lúc khó và đi lại vào dịp hội. Bài giải thích gốc tục, lễ giao hiếu, điều kiêng giữa làng chạ.

Two village processions with red parasols and yellow flags meeting on a raised dyke between flooded rice fields in Phu Tho, figures seen from far away, soft spring haze

Kết chạ là tục hai hay nhiều làng kết nghĩa với nhau như anh em: cam kết giúp đỡ nhau khi hoạn nạn, đi lại thăm hỏi vào những dịp lễ hội, và giữ mối quan hệ ấy qua nhiều đời. Chữ "chạ" là một từ cổ chỉ làng, còn thấy trong cách nói "chung chạ". Tục này gặp nhiều ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ, một số nơi ở Bắc Trung Bộ.

Nếu hương ước và ngôi thứ cho thấy làng tự tổ chức bên trong, thì kết chạ cho thấy làng biết mở ra bên ngoài. Bài này giải thích vì sao các làng kết chạ, lễ giao hiếu diễn ra thế nào, những điều làng chạ thường kiêng với nhau, và tục này còn lại gì hôm nay. Phần thần thờ chung của các làng chỉ được nhắc ở mức giải thích lý do kết nghĩa.

Kết chạ: chữ nghĩa và gốc tục

"Kết" là gắn bó, kết nghĩa. "Chạ" là một từ cổ của tiếng Việt, theo nhiều nhà nghiên cứu dùng để chỉ một cộng đồng cư trú, gần nghĩa với làng. Ghép lại, kết chạ là hai làng kết nghĩa với nhau. Dân gian ở một số nơi gọi tục này bằng những tên khác như "kết nghĩa", "làng anh làng em", hoặc nói gọn là hai làng "là chạ của nhau".

Không có ghi chép nào xác định tục kết chạ bắt đầu từ bao giờ. Những mối kết nghĩa còn được nhắc đến hôm nay phần nhiều có tuổi đời lâu, được truyền miệng hoặc ghi trong thần tích, hương ước của các làng. Người trong làng thường chỉ biết rằng "từ đời các cụ đã thế", và mối quan hệ ấy được giữ như một phần của bản sắc làng. Khi câu chuyện kết nghĩa được kể lại, mỗi làng có thể nhấn vào một chi tiết khác nhau; người tìm hiểu nên ghi nhận cả hai cách kể thay vì chọn một bên là đúng.

Kết chạ khác với quan hệ hàng xóm thông thường giữa hai làng liền kề. Có những làng chạ cách nhau khá xa, thậm chí ở hai vùng khác nhau. Điều làm nên kết chạ là một cam kết có nghi lễ, có lệ đi lại, có những điều kiêng giữ, chứ không chỉ là việc ở gần nhau.

Vì sao các làng kết chạ

Chung gốc tích. Có làng được lập ra từ một nhóm người tách ra từ làng khác; hai làng coi nhau như làng mẹ, làng con hay anh em ruột. Kết chạ giữ cho mối dây ấy không đứt.

Cùng thờ một vị thần. Nhiều cặp làng chạ cùng thờ một vị thần hoặc thờ các vị có quan hệ với nhau trong truyền thuyết địa phương. Lễ hội của làng này vì thế có phần của làng kia.

Từng giúp nhau lúc hoạn nạn. Lũ lụt, hoả hoạn, mất mùa, giặc giã: làng bị nạn được làng khác cưu mang, giúp lương thực, chỗ ở. Ơn ấy được ghi nhớ bằng lời kết nghĩa để con cháu đời sau tiếp tục đền đáp.

Cùng nghề, cùng lợi ích. Hai làng chung một nghề thủ công, chung một bến sông, chung nguồn nước tưới có thể kết chạ để giữ hoà khí, chia sẻ việc chung thay vì tranh chấp.

Giữ yên ổn vùng. Ở những vùng hay có xích mích về ruộng đất, ranh giới, kết chạ là cách các làng cam kết giải quyết với nhau bằng tình nghĩa thay vì kiện tụng, đánh nhau.

Kết chạ khác các quan hệ làng khác thế nào

Người mới tìm hiểu hay nhầm kết chạ với những mối quan hệ khác giữa các làng. Bảng dưới giúp phân biệt.

Quan hệDựa trên gìCó nghi lễ, lệ kiêng riêng không
Làng láng giềngỞ gần nhau, chung ranh giới, chung đồng ruộngThường không; quan hệ tự nhiên, có lúc hoà, có lúc tranh chấp
Làng gốc và làng tách raMột nhóm cư dân rời làng cũ đi lập làng mớiCó thể có; nhiều cặp làng loại này sau trở thành làng chạ
Làng thông giaTrai gái hai làng hay lấy nhau qua nhiều đờiKhông có nghi lễ chung; quan hệ qua từng gia đình
Làng chạCam kết kết nghĩa có nghi lễ, thường gắn với gốc tích, thần thờ hoặc ơn giúp đỡCó lễ giao hiếu, có những điều kiêng giữ với nhau
Kết nghĩa địa phương ngày nayQuyết định của chính quyền, đoàn thểCó hoạt động giao lưu, không mang tính tục lệ

Điều phân biệt rõ nhất là tính cam kết và tính lâu đời. Hai làng láng giềng có thể rất thân, nhưng chỉ khi có lời kết nghĩa, có lệ đi lại được giữ qua nhiều thế hệ thì người ta mới gọi là làng chạ. Ngược lại, có làng chạ cách nhau cả một con sông lớn mà vẫn đi lại đều đặn.

Lễ giao hiếu: hai làng đi lại với nhau ra sao

Mối kết chạ được giữ sống bằng những lần đi lại có nghi lễ, thường gọi là giao hiếu. Vào dịp hội làng, làng chủ nhà mời làng chạ sang dự; làng khách cử một đoàn gồm các cụ, đại diện chức sắc và người khiêng lễ, mang lễ vật sang, có khi kèm cả đội trống, đội múa. Làng chủ nhà ra tận đầu làng đón, mời vào đình, cùng làm lễ, cùng ăn uống.

Ở nhiều nơi, hai làng luân phiên làm chủ: năm nay làng này mời, năm sau làng kia đáp lễ. Có những cặp làng chạ chỉ đi lại vào các năm chẵn, năm lẻ, hay vài năm mới tổ chức một lần lớn, tuỳ lệ đã định từ xưa. Lễ vật thường giản dị: trầu cau, rượu, xôi, gà, hoa quả, với ý nghĩa tình cảm hơn là giá trị vật chất.

Lễ giao hiếu là dịp người hai làng gặp nhau, các cụ ôn lại chuyện kết nghĩa, lớp trẻ biết được làng mình có làng anh em. Người đi trong đoàn thường được dặn ăn nói từ tốn, giữ lễ, vì mỗi người lúc đó đại diện cho cả làng. Một lời nói thiếu ý tứ có thể làm sứt mẻ mối quan hệ mà các cụ đã giữ hàng trăm năm.

Những điều làng chạ thường kiêng với nhau

Mỗi cặp làng chạ có lệ riêng. Dưới đây là những điều kiêng được nhắc đến nhiều trong ghi chép và lời kể ở các làng Bắc Bộ, không phải nơi nào cũng giữ đủ:

  • Kiêng lấy nhau giữa hai làng. Ở nhiều nơi, vì coi nhau như anh em ruột, trai gái hai làng chạ không lấy nhau. Ngày nay nhiều nơi đã nới, nhưng một số làng vẫn giữ như một lời nhắc về tình anh em.
  • Kiêng kiện tụng, gây gổ. Có việc gì vướng mắc, các cụ hai làng ngồi lại bàn, không đưa nhau ra cửa quan, không đánh nhau.
  • Kiêng làm ngơ khi làng chạ gặp nạn. Làng kia gặp lũ, cháy, mất mùa thì làng này phải góp sức giúp đỡ.
  • Kiêng nói lời chê bai. Người làng này không được chê cười phong tục, lễ hội, người làng kia.
  • Kiêng bỏ lệ giao hiếu. Đến kỳ mà không sang dự hay không mời được coi là thất lễ, có khi phải sang xin lỗi.

Lý do của các điều kiêng phần lớn rất thực tế: giữ hoà khí, giữ lời hứa giúp nhau, và tránh những va chạm có thể làm đổ vỡ mối kết nghĩa. Riêng tục kiêng hôn nhân thì nay nhiều gia đình coi là chuyện tôn trọng ý kiến các cụ hơn là một luật cứng.

Kết chạ còn lại gì hôm nay

Qua chiến tranh, qua những thay đổi lớn của làng xã, nhiều mối kết chạ đã bị gián đoạn. Có cặp làng mấy chục năm không đi lại, lớp trẻ không còn biết làng mình có làng chạ. Từ khoảng cuối thế kỷ 20, cùng với việc phục hồi lễ hội truyền thống, nhiều làng ở các tỉnh Bắc Bộ đã tìm lại và nối lại lệ giao hiếu, báo chí địa phương vẫn thường đưa tin về những dịp này.

Hình thức ngày nay gọn hơn: đoàn đại diện gồm các cụ trong ban quản lý di tích, đại diện chính quyền thôn, thanh niên, mang lễ sang dự hội làng bạn. Có nơi kết hợp giao lưu văn nghệ, thi đấu thể thao giữa hai làng. Lễ vật vẫn là tấm lòng, không ai đặt nặng chuyện nhiều ít.

Giá trị lớn nhất của kết chạ hôm nay là tinh thần đoàn kết vượt ra ngoài luỹ tre. Ở thời làng nào cũng có người đi làm ăn xa, quan hệ giữa các làng chạ trở thành một sợi dây gắn kết người xa quê: gặp người làng chạ ở thành phố, nhiều người vẫn chào nhau là "người nhà".

Kết chạ cũng là một bài học nhỏ về cách giải quyết bất đồng giữa các cộng đồng: thay vì giữ mối hiềm khích qua nhiều đời, các làng chọn biến ơn nghĩa và chuyện chung thành một lời hứa có nghi lễ, có người giữ, có dịp nhắc lại. Đó là phần đáng giữ nhất của tục này.

Tìm hiểu mối kết chạ của làng mình

Nếu bạn muốn biết làng mình có làng chạ hay không, nơi bắt đầu dễ nhất là hỏi các cụ cao tuổi và ban quản lý di tích đình làng. Họ thường còn nhớ tên làng chạ, câu chuyện kết nghĩa và lần giao hiếu gần nhất. Hương ước, thần tích của làng, nếu còn, có khi ghi rõ lệ đi lại giữa hai làng.

Khi ghi chép, bạn nên ghi rõ ai kể, kể năm nào, và nếu có thể thì hỏi cả người bên làng chạ, vì mỗi bên có khi nhớ câu chuyện một cách khác nhau. Đây là nguyên tắc chung khi tìm hiểu phong tục: không lấy một nguồn làm sự thật duy nhất.

Nếu làng muốn nối lại lệ giao hiếu đã bị gián đoạn, nên bắt đầu bằng một cuộc gặp của các cụ và ban quản lý hai bên, thống nhất thời gian, hình thức và quy mô vừa phải. Một lần đi lại nhỏ mà ấm áp thường có ý nghĩa hơn một buổi lễ rình rang tốn kém, và cũng dễ duy trì cho những năm sau.

Câu hỏi thường gặp

Chữ chạ trong kết chạ nghĩa là gì?

Chạ là một từ cổ, theo nhiều nhà nghiên cứu dùng để chỉ một cộng đồng cư trú, gần nghĩa với làng. Từ này còn thấy trong cách nói chung chạ. Kết chạ là hai làng kết nghĩa với nhau.

Có phải hai làng kết chạ thì không được lấy nhau?

Ở nhiều nơi có lệ kiêng trai gái hai làng chạ lấy nhau, vì coi nhau như anh em. Tuy vậy không phải làng chạ nào cũng giữ, và nay nhiều nơi đã nới. Pháp luật không cấm việc này, đây chỉ là tục.

Kết chạ có ở miền Nam không?

Tục kết chạ được ghi nhận chủ yếu ở đồng bằng, trung du Bắc Bộ và một phần Bắc Trung Bộ, nơi có làng lâu đời. Làng ở Nam Bộ hình thành muộn hơn nên quan hệ giữa các làng mang những hình thức khác.

Lễ giao hiếu giữa hai làng chạ thường vào dịp nào?

Thường vào dịp hội làng, khi làng chủ nhà mời làng chạ sang dự lễ. Có cặp làng đi lại hằng năm, có cặp luân phiên năm chẵn năm lẻ hoặc vài năm một lần tuỳ lệ đã định.

Kết chạ có giống kết nghĩa giữa các địa phương ngày nay không?

Có điểm giống là tinh thần giúp đỡ nhau. Nhưng kết chạ là tục dân gian giữa các làng, có nghi lễ và lệ kiêng giữ qua nhiều đời, còn kết nghĩa giữa các địa phương ngày nay chủ yếu là hoạt động hành chính, giao lưu.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183