TapTuc.comTập Tục
Tang ma của các dân tộc

Tang lễ người Tày, Nùng: thầy tào, những đêm tang và cây hoa báo hiếu của con cháu

Đám ma người Tày, Nùng do thầy tào chủ trì, có những đêm tang, lễ dâng hoa của con cháu và thời gian để tang dài. Bài giải thích từng phần ở mức phong tục.

Valley village in Cao Bang with stone-footed stilt houses, a family in white mourning clothes seen from a distance on a veranda, paper flower tree in soft blur, overcast light

Đám ma của người Tày và người Nùng ở Việt Bắc thường do thầy tào chủ trì: thầy định các bước, đọc kinh sách viết bằng chữ Hán – Nôm, dẫn con cháu làm lễ để đưa người mất về với tổ tiên. Nhiều nơi tổ chức trong khoảng ba đêm, có lễ con cháu dâng cây hoa giấy báo hiếu cha mẹ, và con cháu để tang đến lễ mãn tang, thường sau ba năm.

Người Tày và người Nùng sống gần nhau, chung nhiều nét văn hoá, nên tang tục cũng gần nhau. Bài này giới thiệu ở mức phong tục những phần chính, vai trò thầy tào, ý nghĩa cây hoa, và những thay đổi hôm nay. Lễ cúng chi tiết, giờ giấc, văn cúng là việc của thầy tào và gia đình, bài không đi vào.

Thầy tào là ai và vì sao chủ trì đám ma

Trong đời sống tín ngưỡng của người Tày, Nùng có mấy loại thầy cúng: thầy tào, thầy mo, bà then, mỗi người một việc. Thầy tào là người được học sách cúng viết bằng chữ Hán và chữ Nôm Tày, truyền theo thầy hoặc theo dòng họ, chịu ảnh hưởng của Đạo giáo dân gian. Một nghiên cứu về tang ma người Tày mô tả thầy tào là người chủ trì nghi lễ chuyển người chết về thế giới tổ tiên.

Trong đám ma, thầy tào giữ vai trò như người tổng chỉ huy phần nghi lễ: từ phát tang, khâm liệm, các lễ cúng trong những đêm tang, đến lúc đưa tang và chôn cất. Gia đình có tang phải mời thầy tào đến, và mọi việc lễ thường hỏi ý thầy.

Đám ma của chính một thầy tào thường có nhiều nghi thức hơn đám ma thường, có sự tham gia của các thầy khác và bà then. Điều đó cho thấy vị trí đặc biệt của người giữ tri thức nghi lễ trong cộng đồng.

Then là một loại hình nghi lễ khác của người Tày, Nùng, Thái. Thực hành Then đã được UNESCO ghi danh là di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại. Trong tang lễ, vai trò chính vẫn là thầy tào; then góp mặt ở một số nghi thức tuỳ vùng.

Các phần chính của một đám ma người Tày

Khung dưới đây theo các mô tả phổ biến về tang ma người Tày ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên (gồm vùng Bắc Kạn cũ). Tên gọi, thứ tự và số đêm khác nhau theo vùng, theo dòng họ và tuổi người mất.

  1. Báo tang, mời thầy tào. Gia đình báo họ hàng, bản làng; người có kinh nghiệm trong họ đi mời thầy tào.
  2. Khâm liệm, nhập quan, phát tang. Con cháu thay áo cho người mất, làm các việc theo hướng dẫn của thầy; con cháu nhận tang phục.
  3. Những đêm tang. Thầy tào làm các lễ theo trình tự sách cúng; họ hàng, khách đến viếng; con cháu túc trực bên linh cữu.
  4. Lễ dâng hoa. Ở nhiều nơi, vào đêm cuối, con cháu dâng cây hoa báo hiếu, có lễ giao hoa cho người mất.
  5. Đưa tang, chôn cất. Linh cữu được đưa ra nơi chôn cất; con cháu đi theo trong tang phục, có nơi con trai chống gậy.
  6. Các lễ sau tang và mãn tang. Gia đình làm các lễ theo tục; thường đến khoảng ba năm thì làm lễ mãn tang, bỏ tang phục.

Số đêm của đám ma xưa tuỳ điều kiện gia đình và tuổi người mất. Nhiều tài liệu ghi đám ma người Tày thường kéo dài ba đêm, đêm thứ ba có lễ giao hoa. Nay nhiều nơi đã rút ngắn theo quy định chung về thời gian quàn và quy ước của thôn bản.

Cây hoa báo hiếu: lễ vật của con cháu

Một nét được nhắc tới nhiều trong đám ma người Tày là cây hoa báo hiếu. Đó là một cây hoa làm bằng tre, giấy màu, có nhiều tầng, cành, bông, do con cháu chuẩn bị hoặc nhờ người khéo tay làm. Cây hoa được đặt trang trọng trong nhà tang và dâng lên người mất trong một nghi thức riêng.

Ý nghĩa thường được giải thích là con cháu báo đáp công sinh thành dưỡng dục, gửi theo người mất những bông hoa đẹp nhất. Ở một số nơi, con gái và con rể có phần lễ hoa riêng, thể hiện tình cảm của người con đã đi lấy chồng với cha mẹ đẻ.

Cách làm hoa, số tầng, màu sắc khác nhau theo vùng và theo quan hệ của người dâng với người mất. Làm hoa là một nghề thủ công nhỏ ở một số làng, người làm thuộc lòng kiểu hoa nào dành cho dịp nào.

Người đến viếng có thể ngắm cây hoa như một sản phẩm văn hoá, nhưng không nên chạm vào, xin hay mang theo cánh hoa nào. Sau lễ, hoa được xử lý theo tục của gia đình.

Ở những nơi mỗi người con dâng một cây hoa riêng, đám ma nhà đông con có nhiều cây hoa, và có lúc người ta so nhau xem hoa nhà ai to, đẹp hơn. Nhiều thôn nay khuyên làm vừa phải, giữ ý nghĩa báo hiếu hơn là hình thức.

Tang phục và thời gian để tang

Con cháu người Tày, Nùng để tang bằng áo, khăn màu trắng, chất liệu và cách mặc khác nhau theo mức quan hệ với người mất. Con trai, con dâu là người để tang nặng nhất; cháu, chắt và họ hàng xa để tang nhẹ hơn. Một số vùng có dấu hiệu riêng trên khăn hay áo để người khác biết vai vế của người để tang.

Thời gian để tang cho cha mẹ theo tục truyền thống thường kéo dài đến lễ mãn tang, khoảng ba năm. Trong thời gian đó, nếp xưa có những kiêng cữ: hạn chế dự đám cưới, mặc đồ sặc sỡ, tổ chức việc vui lớn trong nhà. Ngày nay mức kiêng cữ tuỳ gia đình, nhiều nhà chỉ giữ trong năm đầu.

Lễ mãn tang là dịp gia đình làm lễ cúng lớn, mời thầy tào, họ hàng, rồi con cháu bỏ tang phục, trở lại sinh hoạt bình thường. Ở một số nơi, lễ cầu siêu thường được gọi là làm chay, có thể làm kèm vào dịp này hoặc vào một dịp khác tuỳ gia đình.

Người ngoài gặp người Tày đang để tang nên tế nhị: không mời họ vào việc vui lớn nếu họ chưa muốn, và hiểu cho việc họ vắng mặt ở một số dịp.

Bản làng giúp nhau khi có tang

Ở bản Tày, Nùng, một nhà có tang thì cả bản cùng lo. Tục truyền thống là mỗi nhà góp một phần theo lệ: gạo, rượu, củi, có nơi góp gà, góp tiền; thanh niên lo khiêng, đào huyệt; phụ nữ lo bếp núc. Nhiều thôn có tổ hiếu hoặc hội tương trợ, ghi chép việc góp để lần sau nhà khác có việc thì giúp lại cho đủ.

Tục góp này vừa là tình làng nghĩa xóm, vừa là cách chia gánh nặng kinh tế. Một đám ma xưa có thể kéo dài nhiều ngày, đãi nhiều mâm cơm; không có bản làng giúp, nhiều nhà không lo nổi.

Ngày nay nhiều thôn đã đưa việc tang vào quy ước: mức góp cụ thể, số mâm cỗ tối đa, thời gian quàn, nơi chôn cất. Cách làm này giúp gia đình nghèo không phải gồng mình làm to cho bằng người khác, và giảm áp lực "sợ người ta nói".

Khi bạn ở bản, sống cùng người Tày, Nùng một thời gian, việc đến giúp một tay trong đám ma của hàng xóm là cách được bản coi như người nhà. Hỏi trưởng thôn hoặc người trong tổ hiếu xem cần giúp gì.

Người Tày và người Nùng: giống và khác

Giống ở vai trò thầy tào. Cả hai dân tộc đều có thầy tào chủ trì tang lễ, dùng sách cúng chữ Hán – Nôm. Nhiều thầy tào làm lễ cho cả người Tày lẫn người Nùng trong vùng, và gia đình hai dân tộc thường mời thầy theo uy tín chứ không theo dân tộc.

Giống ở nếp nhà và dòng họ. Việc tang là việc của cả họ; con trai trưởng là người chịu tang chính, con gái và con rể có phần lễ riêng.

Khác ở chi tiết nghi lễ. Các nhóm Nùng như Nùng Phàn Slình, Nùng Inh, Nùng Cháo, Nùng An có tục riêng, ảnh hưởng của quê gốc và của vùng cư trú hiện nay.

Khác theo vùng hơn là theo tên dân tộc. Người Tày ở Cao Bằng và người Tày ở Lào Cai có thể khác nhau nhiều hơn người Tày và người Nùng sống cùng một xã ở Lạng Sơn.

Đổi thay giống nhau. Ở đô thị và thị trấn, đám ma cả hai dân tộc đều đang gọn lại, gần với tang lễ phổ biến, nhưng vẫn giữ việc mời thầy tào.

Giữ nếp cũ trong đám ma hôm nay

Nhiều gia đình người Tày, Nùng sống ở thành phố vẫn đưa người mất về quê hoặc mời thầy tào lên làm lễ. Lý do thường được nói là con cháu muốn người mất được tiễn đúng nếp nhà, và họ hàng ở quê cũng mong như vậy.

Ở chiều ngược lại, các thôn bản đang cùng nhau điều chỉnh những phần nặng nề: rút ngắn số đêm, giảm cỗ bàn, bớt mổ trâu bò, chôn cất ở nghĩa trang quy hoạch. Thầy tào trẻ cũng ít đi; việc học sách cúng bằng chữ Hán – Nôm đòi hỏi nhiều năm.

Với người viết hay người làm văn hoá, tang ma Tày, Nùng là kho tư liệu về chữ Nôm Tày, về âm nhạc nghi lễ, về nghề làm hoa giấy. Ghi chép cẩn thận, có sự đồng ý của gia đình và thầy tào, là cách giữ lại những điều đó trước khi mất đi.

Nếu bạn là người Tày, Nùng muốn hiểu đám ma của ông bà mình, hãy hỏi người cao tuổi trong họ khi chưa có việc, ghi lại những gì họ nhớ. Đó là thứ không có trong sách nào.

Một gợi ý thực tế cho gia đình ở xa: khi bố mẹ còn khoẻ, hãy hỏi xem họ muốn đám ma của mình làm theo nếp nào, mời thầy tào nào, chôn ở đâu. Câu chuyện ấy không dễ mở lời, nhưng giúp con cháu sau này không lúng túng giữa ý muốn của người mất, ý kiến của họ hàng và điều kiện thật của gia đình.

Câu hỏi thường gặp

Thầy tào khác thầy mo và bà then thế nào?

Ở người Tày, Nùng, thầy tào dùng sách cúng chữ Hán – Nôm, thường chủ trì tang lễ và các lễ lớn; thầy mo và bà then làm những loại nghi lễ khác, có lời hát, nhạc cụ riêng. Ranh giới công việc giữa các thầy khác nhau theo vùng, nên hỏi người địa phương để biết rõ.

Cây hoa báo hiếu trong đám ma người Tày có ý nghĩa gì?

Cây hoa bằng tre và giấy màu do con cháu dâng lên người mất để báo đáp công sinh thành. Ở một số nơi, con gái và con rể có phần hoa riêng. Hoa được dâng trong một nghi thức của đêm tang, thường do thầy tào hướng dẫn.

Người Tày để tang cha mẹ bao lâu?

Theo tục truyền thống, con cháu thường để tang đến lễ mãn tang, khoảng ba năm. Mức kiêng cữ trong thời gian đó ngày nay tuỳ gia đình; nhiều nhà chỉ giữ nghiêm trong năm đầu và giản lược dần về sau.

Đám ma người Tày kéo dài mấy đêm?

Nhiều tài liệu ghi thường khoảng ba đêm, nhưng số đêm tuỳ vùng, tuổi người mất và điều kiện gia đình. Nay nhiều nơi rút ngắn theo quy ước của thôn bản và quy định chung về thời gian quàn. Gia đình nên bàn với thầy tào và trưởng thôn.

Người Kinh đi viếng đám ma người Tày cần lưu ý gì?

Hỏi người quen về lệ góp lễ của vùng, mặc trang phục tối màu, đứng lặng khi thầy tào đang làm lễ, không chụp ảnh linh cữu hay cây hoa khi chưa được phép. Chào gia đình trước khi về và nói vài lời chia buồn ngắn gọn là đủ.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183