Ở làng Việt xưa, đặc biệt là đồng bằng Bắc Bộ, con trai đến tuổi nhất định thì được ghi tên vào sổ đinh của làng, trở thành "đinh", tức người đàn ông trưởng thành có nghĩa vụ đóng thuế thân, đi phu, đi lính, và có quyền dự việc làng. Tuổi vào sổ đinh thường được nhắc là khoảng mười tám, có làng tính khác. Nhiều làng có lệ gia đình làm lễ trình làng khi con trai vào đinh, nên người ta gọi chung là lệ thành đinh.
Bài này giải thích lệ thành đinh như một mốc trưởng thành của người Việt: sổ đinh là gì, vào đinh thì được gì và phải gánh gì, ai đứng ngoài sổ đinh, và vì sao lệ ấy biến mất. Lệ của mỗi làng được ghi trong hương ước riêng, khác nhau nhiều; những gì dưới đây là khung chung theo các khảo cứu về làng Việt.
Sổ đinh là gì và vì sao nhà nước xưa cần nó
Sổ đinh, còn gọi là đinh bạ, là danh sách những người đàn ông trong độ tuổi chịu thuế và lao dịch của một làng. Các triều đại phong kiến Việt Nam dựa vào sổ đinh để thu thuế thân, bắt lính, huy động phu làm đê, làm đường. Làng là đơn vị chịu trách nhiệm trước nhà nước: nhà nước giao cho làng một số đinh, làng tự lo chia thuế, chia phu cho từng người.
Chính vì cơ chế ấy, nhiều làng có xu hướng khai thiếu số đinh thực tế với cấp trên để giảm gánh thuế chung, trong khi sổ đinh nội bộ của làng ghi đầy đủ hơn. Các nhà nghiên cứu về làng Việt thường nhắc đến hiện tượng này để cho thấy làng có quyền tự quản khá lớn, và câu "phép vua thua lệ làng" có một phần gốc từ đó.
Với người dân, tên mình trong sổ đinh không chỉ là chuyện thuế. Đó là bằng chứng mình là dân chính cư của làng, là thành viên có tư cách. Vì thế, việc con trai vào sổ đinh là một mốc lớn của gia đình: từ hôm ấy, cậu không còn là đứa trẻ trong nhà mà là một người đàn ông có tên trong danh sách của làng.
Vào sổ đinh: được gì và phải gánh gì
Quyền và nghĩa vụ của một tráng đinh khác nhau theo thời và theo làng. Theo các khảo cứu phổ biến, có thể hình dung như sau:
- Đóng thuế thân: mỗi đinh nộp một khoản thuế theo đầu người, làng thu rồi nộp lên trên.
- Đi phu, đi lính: làng cắt cử tráng đinh đi làm đê, sửa đường, hoặc đi lính theo số triều đình giao.
- Được chia ruộng công: ở nhiều làng, ruộng công được chia theo khẩu phần cho dân đinh; đây là quyền lợi vật chất quan trọng nhất.
- Được dự việc làng: có chỗ ngồi ở đình trong các kỳ hội họp, tế lễ, theo thứ bậc của mình.
- Gánh việc chung: canh phòng, tuần đinh, góp công khi làng có việc.
- Đến tuổi lên lão thì được miễn: khi già, người ấy rời khỏi nghĩa vụ đinh và chuyển sang hàng lão, được làng kính trọng theo lệ riêng.
Như vậy, vào sổ đinh vừa là được, vừa là mất. Một gia đình nghèo có thêm con trai vào đinh thì thêm phần ruộng công nhưng cũng thêm khoản thuế, thêm người phải đi phu. Đó là lý do lễ vào đinh ở nhiều làng không chỉ có không khí vui mà còn có phần lo lắng.
Lễ trình làng khi con trai vào đinh
Nhiều làng có lệ gia đình phải trình làng khi con trai đến tuổi vào đinh; tên gọi mỗi nơi một khác, có nơi gọi là lễ vào đinh, lễ lên đinh. Khung chung thường gồm các bước:
- Gia đình báo với lý trưởng hoặc người giữ sổ của làng rằng con mình đã đến tuổi.
- Gia đình chuẩn bị phần lễ theo lệ làng, có khi kèm một khoản tiền nộp quỹ làng. Mức lễ ghi trong hương ước và khác nhau rất nhiều giữa các làng.
- Vào ngày làng hội họp, người con trai ra đình, trình diện trước các bậc chức sắc, kỳ mục.
- Tên người ấy được ghi vào sổ đinh, từ đó có tên trong các lần cắt cử việc làng.
- Người mới vào đinh bắt đầu ngồi ở chỗ của mình trong đình, thường là ở hàng thấp nhất, rồi lên dần theo tuổi và theo các phẩm hàm, chức vị có được về sau.
Ở nhiều làng, các khoản lễ khi vào đinh, mua ngôi thứ, khao vọng từng là gánh nặng lớn với gia đình nghèo. Nhiều hương ước cải lương đầu thế kỷ hai mươi đã có điều khoản giảm bớt các khoản này, cho thấy chính người trong làng cũng nhận ra phần nặng nề của lệ cũ.
Những người đứng ngoài sổ đinh
Phụ nữ. Sổ đinh chỉ ghi nam giới. Phụ nữ không có tên trong sổ, không có chỗ ngồi chính thức ở đình trong các kỳ họp việc làng. Tuổi trưởng thành của người con gái được đánh dấu bằng việc khác như cưới hỏi, chứ không bằng một danh sách của làng. Đây là một mặt bất bình đẳng của làng xưa mà khi kể lại cần nói rõ.
Dân ngụ cư. Người từ nơi khác đến ở thường không được ghi vào sổ đinh như dân chính cư, chịu nhiều thiệt thòi về ruộng công và chỗ đứng ở đình. Muốn được nhận là dân chính cư phải ở lâu năm và theo những điều kiện của từng làng.
Người có chức sắc, khoa bảng. Người đỗ đạt, có phẩm hàm thường được miễn một số nghĩa vụ đinh và được xếp ngôi thứ cao hơn. Đây là một lý do khiến việc học và đỗ đạt được coi trọng ở làng xưa.
Người tàn tật, ốm yếu. Một số làng có lệ miễn hoặc giảm nghĩa vụ cho người không đủ sức. Mức độ tuỳ hương ước.
Thành đinh trong nhà: từ đứa con thành người trụ cột
Nhìn từ trong gia đình, việc con trai vào sổ đinh thường trùng với những thay đổi khác. Cậu bắt đầu làm những việc nặng nhất trên đồng cùng cha, thay cha đi phu khi nhà có việc, gánh phần thuế của mình. Cha mẹ bắt đầu tính chuyện dựng vợ cho con. Người con trai đã thành đinh vì thế được nhìn như một trụ cột tương lai của nhà, là người sẽ thay cha giữ việc thờ cúng, giữ ruộng vườn.
Văn chương cũ cho thấy chuẩn mực mà xã hội Nho giáo đặt lên vai người đàn ông trưởng thành. Câu mở đầu truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, "Trai thời trung hiếu làm đầu, gái thời tiết hạnh là câu trau mình", là một ví dụ quen thuộc: con trai lớn lên phải lấy trung với nước, hiếu với cha mẹ làm gốc. Lệ thành đinh của làng là mặt hành chính, còn những chuẩn mực ấy là mặt đạo lý của cùng một mốc tuổi.
Cũng cần nói rằng gánh nặng thành đinh rơi không đều. Con nhà khá giả có thể nộp tiền thay phu, mua ngôi thứ, sớm có chỗ ngồi cao ở đình. Con nhà nghèo vào đinh là bắt đầu những năm vất vả nhất. Khi kể lại lệ cũ cho con cháu, nhắc cả phía này giúp câu chuyện công bằng hơn, tránh lối nhìn hoài cổ chỉ thấy cảnh đình làng trang nghiêm.
Lệ thành đinh mất đi như thế nào
Thời Pháp thuộc, thuế thân vẫn được duy trì và trở thành một gánh nặng bị phản đối mạnh. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, thuế thân bị bãi bỏ, kéo theo việc sổ đinh không còn ý nghĩa thu thuế. Những thay đổi về tổ chức hành chính, ruộng đất trong các thập kỷ sau đó làm cho hệ thống đinh, ngôi thứ ở đình mất hẳn vai trò cũ.
Ngày nay, người Việt đánh dấu tuổi trưởng thành bằng những mốc khác: đủ mười tám tuổi là người thành niên theo pháp luật dân sự, được đi bầu cử, có những nghĩa vụ công dân mới. Những gì từng do sổ đinh đảm nhận như ghi nhận dân số, nghĩa vụ quân sự nay thuộc về hệ thống hành chính và pháp luật của nhà nước.
Dấu vết của lệ thành đinh còn lại trong ngôn ngữ và ký ức: chữ "tráng đinh", "bạch đinh", "dân đinh" trong sách vở; những câu chuyện của ông bà về ngày ra đình; và trong các hương ước cũ còn lưu ở thư viện, bảo tàng. Ở một số làng giữ lễ hội đình, thứ tự ngồi theo tuổi của các cụ trong ngày tế vẫn là một nét gợi lại cách làng xưa xếp chỗ cho người trưởng thành.
So sánh mốc trưởng thành của nam giới ở làng xưa và hôm nay
Bảng dưới không nhằm khen chê mà để thấy cách một xã hội ghi nhận người lớn đã đổi thay thế nào.
| Khía cạnh | Làng Việt xưa | Hôm nay |
|---|---|---|
| Ai ghi nhận | Làng, qua sổ đinh | Nhà nước, qua pháp luật và giấy tờ |
| Tuổi | Thường quanh mười tám, tuỳ làng | Đủ mười tám tuổi là người thành niên |
| Nghĩa vụ | Thuế thân, phu dịch, lính, việc làng | Nghĩa vụ công dân theo pháp luật |
| Quyền | Ruộng công, chỗ ngồi ở đình, dự việc làng | Bầu cử, tự xác lập giao dịch dân sự, các quyền công dân |
| Phụ nữ | Không có tên trong sổ đinh | Bình đẳng với nam giới trước pháp luật |
Điểm khác căn bản là ai đứng ra ghi nhận. Ngày xưa, làng là nơi một người đàn ông được nhận là người lớn, và làng cũng là nơi giữ quyền phân chia nghĩa vụ. Ngày nay, quan hệ ấy là quan hệ trực tiếp giữa công dân và nhà nước, không qua lệ của từng làng.
Điểm giống nhau thì vẫn còn: tuổi trưởng thành luôn đi kèm cả quyền lẫn nghĩa vụ. Nói với con cháu về lệ thành đinh là một cách dễ hiểu để giải thích vì sao đủ mười tám tuổi không chỉ là được tự do hơn mà còn là phải chịu trách nhiệm nhiều hơn.
Câu hỏi thường gặp
Tráng đinh là gì?
Tráng đinh là người đàn ông trong độ tuổi khoẻ mạnh, có tên trong sổ đinh của làng, chịu thuế thân và phu dịch. Chữ "tráng" chỉ sức trai, chữ "đinh" chỉ người đàn ông được ghi trong sổ. Trong sách cũ, tráng đinh thường được dùng khi nói về việc bắt lính, bắt phu.
Bạch đinh là gì?
Bạch đinh là người dân đinh không có chức sắc, phẩm hàm hay học vị gì. Họ đứng ở hàng thấp trong ngôi thứ của làng. Từ này đôi khi được dùng để chỉ người dân thường nói chung trong văn chương cũ.
Con trai bao nhiêu tuổi thì vào sổ đinh?
Theo các khảo cứu phổ biến, tuổi vào sổ đinh thường quanh mười tám, nhưng mỗi thời kỳ và mỗi làng có quy định khác nhau. Tuổi ra khỏi nghĩa vụ đinh, tức lên lão, cũng khác nhau giữa các làng.
Thuế thân bị bãi bỏ khi nào?
Thuế thân bị bãi bỏ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, là một trong những chính sách đầu tiên của chính quyền mới. Từ đó sổ đinh mất vai trò làm căn cứ thu thuế đầu người.
Có thể đọc hương ước cũ ghi lệ vào đinh ở đâu?
Nhiều hương ước cũ được lưu ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm, các thư viện lớn và bảo tàng địa phương; một số đã được dịch và in thành sách. Một số làng còn giữ bản hương ước của mình ở đình hoặc ở nhà các cụ trong làng.
Lệ thành đinh có liên quan gì đến lễ lên lão không?
Hai lệ là hai đầu của cùng một hệ thống. Vào đinh là bắt đầu gánh nghĩa vụ với làng; lên lão là lúc được miễn nghĩa vụ và chuyển sang hàng được kính trọng. Giữa hai mốc ấy là cả đời trai của một người đàn ông ở làng xưa.